✕
#
Đang lọc theo hashtag: #maudentu
Chỉ hiển thị các bài viết có gắn hashtag này
✕ Bỏ lọc
Ban Sơn Trang là gì, thờ những ai ? 

Tục thờ Sơn Trang là một tục thờ tối cổ của người Việt; ra đời từ thời Âu Lạc; cách đây cỡ 2000 năm. Còn tục thờ Tứ Phủ có lẽ chỉ thịnh hành khi có xuất hiện Thánh Mẫu Liễu Hạnh cách đây hơn 600 năm. Như vậy; Tục thờ Sơn Trang ban đầu là một tín ngưỡng riêng biệt không phải là tín ngưỡng Tứ Phủ.

Trước khi tín ngưỡng Tứ Phủ ra đời thì đây là một tín ngưỡng riêng biệt, là một dòng thờ riêng và tách bạch với các tín ngưỡng cùng thời. Như vậy có thể coi tục thờ Tứ Phủ bắt nguồn từ tục thờ Sơn Trang.

Tại sao Cung Sơn Trang lại được phối thờ trong các đền phủ theo tín ngưỡng Tứ Phủ ?

Việc phối thờ Sơn Trang trong cùng đền; phủ của tục thờ Tứ Phủ mang dấu ấn đậm nét tinh thần đoàn kết dân tộc giữa người Kinh đa số và các dân tộc thiểu số từ thời xa xưa. Điều đó muốn nói rằng đất nước Việt Nam là của chung mọi dân tộc Việt Nam và các dân tộc Việt đều thờ chung các vị Thánh. Sau khi giúp vua Lê Thắng trận và được sắc phong.

Chúa Sơn Trang là ai ?

Ngự tại Cung Sơn Trang (hay Tòa Sơn Trang) là Tam Tòa Sơn Trang. Tam Tòa Sơn Trang bao gồm:

+ Sơn Trang Đệ Nhất: Thanh Sơn Đại Vương Bạch Anh Quản Trưởng Sơn Lâm Công chúa Lê Mại Đại Vương.

+ Sơn trang Đệ Nhị: Diệu Tín Thiền Sư La Bình Công chúa.

+ Sơn Trang Đệ Tam: Sơn Trang đệ tam Diệu Nghĩa thiền sư Quế Hoa công chúa.

Nguồn khác thì cho rằng các chúa Sơn Trang chính là các Chúa Mường. Chúa Mường được thờ từ rất lâu đời . Từ thời vua Hùng đã có hình ảnh Chúa Mường; nhân dân ta tôn xưng Chúa Mường là chúa Sơn Trang . Trong sách cũng có câu hiệu viết Chúa Mường Sắc Tướng Đại Vương Bạch Anh Quản Trưởng Sơn Lâm Công Chúa; 3 vị tối linh quyền hành 1 cõi.

Lịch sử Chúa Sơn Trang hay lịch sử các Chúa Mường

Lịch sử của tam Vị chúa Mường như sau:

1. Chúa đệ Nhất

Thành Sơn Đại Vương Bạch Anh Quan Trưởng Sơn Lâm Công Chúa: Chúa Bà Thanh Sơn được thờ ở Tam Đảo một trong những địa linh của đất nước . Chúa xuất hiện ở thời Vua Hùng …Truyện kể rằng Kinh Đô Bạch Hạc bị giặc vây hãm vào thế khốn cùng bỗng đâu xuất hiện 1 người con gái từ trên núi Tam Đảo cùng 3 nghìn quân Mường kéo xuống giải vây cho Kinh Đô Giặc tan người con gái ấy cùng quân lui về núi Tam Đảo .

– Triều Đình nhân dân nhớ ơn lập miếu thờ ở chân núi Tam Đảo ; đền thờ ở Tam Đảo trải qua các đời kể cả thời bắc thuộc . Đền là 1 trong những Long mạch thần khí của đất nước . Đến đời Trần cho sửa sang lại đền phong Sắc Đại Vương . Hiệu viết Chúa Mường Bạch Anh Quản Trưởng Sơn Lâm Công Chúa . Đến đời hậu Lê phong Lê Mại Đại Vương .

2. Chúa đệ nhị

Bạch Hạc Xuân Nương công chúa. Bà Xuân Nương là tướng của Hai Bà Trưng là người Mường khởi nghĩa vùng Bạch Hạc .

3. Chúa đệ tam

Chúa có tên huý là Đinh Thị Vân chính là Thác Bờ Công Chúa hay Miếng công chúa . Chúa có công nuôi dưỡng vua Lê Thái Tổ và nghĩa quân. Chúa thác hoá ở thác Bờ ngày nay. Vua phong Chế Thắng Hoà Diệu Đại Vương làm chúa đất Hoà Bình; Sơn La; Lai Châu; Điện Biên Anh Linh lừng lẫy khắp chốn sơn trang. Ngài là chúa Bản Cảnh đất Hoà Bình nói riêng và là chúa động Mường nói chung.

Như vậy; các nguồn cho rằng tên của Chúa Mường Đệ Nhị và Chúa Mường Đệ Tam có sự khác nhau. Đó cũng là chuyện thường tình vì hiên nay các thánh tích chỉ chủ yếu là tương truyền. Nhưng sự thống nhất của hai tác giả này là Động Sơn Trang là thờ Tam Vị Chúa Mường.

– Chầu Bà Đệ Nhị là đại diện của Mẫu Thượng Ngàn cai quản tam thập lục động; thập nhị tiên nàng; bát bộ sơn trang. Trong tòa Sơn trang chia ra làm 12 chốn Mán; 12 chốn Mường; 12 chốn man di Thổ tộc cho nên mới gọi là tam thập lục động sơn lâm sơn trang; và 82 cửa rừng; 72 cửa biển; bát bộ sơn trang (8 tướng trai); thập nhị bộ tiên nàng (12 tướng gái).

Bát Bộ Sơn Trang là ai ?

– Theo tương truyền Mẫu Thượng Ngàn lấy ông họ Đỗ ở Đồng Đăng; hạ sinh được ông Đỗ Đống; Ông Đỗ Đống lấy bà Nguyễn Thị Tươi sinh ra 8 tướng phù giúp An Dương Vương; sau này hiển linh phù giúp Hai Bà Trưng và các đời Lý; Trần; Lê. Nhân dân ta gọi là 8 tướng sơn trang; Cai quản Các Lũng; Các Nương Núi Rừng; gồm: Đỗ Trinh; Đỗ Triệu; Đỗ Hiệu; Đỗ Trung; Đỗ Bích; Đỗ Trương; Đỗ Cường; Đỗ Dũng.

12 cô Sơn Trang là ai?

Thập nhị cô Sơn Trang là 12 thánh cô đi theo hầu Mẫu Thượng Ngàn. Các cô không thuộc Tứ Phủ Thánh Cô nhưng đôi khi các cô vẫn ngự đồng. 12 Cô Sơn Trang này là: Cô Cả Núi Dùm; Cô Đôi Bắc Lệ; Cô Bơ Thượng Ngàn; Cô Tư Ỷ La; Cô Năm Đồng Tiền; Cô Sáu Đồi Ngang; Cô Tám Thượng Ngàn; Cô Chín thượng ngàn; Cô Mười Suối Ngang; Cô Mười Một Đồng Nhân; Cô Mười Hai Thượng Ngàn. (theo ý kiến của Mười hai cô sơn trang )

Những ý kiến tham khảo khác về Chúa Sơn Trang:

– Có tài liệu cho rằng Cô Đôi Thượng Ngàn là Bà Chúa Sơn Trang.

– Người viết cho rằng điều này chưa thưc sự có thuyết phục lắm.

– Có tài liệu cho rằng Chúa Sơn trang được coi là Mẫu Đệ Tứ Nhạc Tiên được phủ diện hầu sau Tam Tòa Thánh Mẫu. Việc coi Chúa Sơn Trang như Mẫu thứ tư sau Tam Tòa Thánh Mẫu thể hiện tinh thần đoàn kết dân tộc giữa các dân tộc Việt Nam và cũng thể hiện một điều Dân tộc Việt nam đều thờ chung các vị thánh; với quan niệm này có cơ sở hơn là coi Chúa Sơn Trang là Cô Đôi Thượng Ngàn. Lưu ý khái niệm Mẫu Địa Tứ Nhạc Tiên khác với Mẫu Đệ Tứ (Mẫu Địa) trong Tứ Phủ Thánh Mẫu.

– Nhưng có nhiều ý kiến cho rằng Chúa Sơn Trang cũng là hiện thân của Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn. Hay nói cách khác Mẫu Thượng Ngàn ngự tại Động Sơn Trang thì được gọi là Chúa Sơn Trang. Nếu hiểu theo cách này thì Chúa Sơn Trang chỉ là hiện thân của Mẫu Thượng Ngàn.

– Như vậy; động Sơn Trang thờ ai còn là một điều còn phải tranh cãi. Tuy vậy, động Sơn Trang hiện là một phần không tách rời trong tục thờ của Tứ Phủ.

Cách chuẩn bị lễ vật (mâm cúng) cúng ban Sơn Trang

Khi đến dâng hương ở các đền chùa nên sắm các lễ chay như hương, hoa tươi, quả chín, oản, xôi, chè… Không đặt lễ mặn ở khu vực Phật điện tức là chính điện, tức là nơi thờ tự chính của ngôi chùa. Trên hương án của chính điện chỉ được dâng đặt lễ chay, tịnh. Việc sắm sửa lễ mặn như cỗ tam sinh (trâu, dê, lợn), thịt gà, giò, chả… chỉ có thể được chấp nhận nếu như trong khu vực chùa có thờ tự các vị Đức Ông, Thánh, Mẫu và chỉ dâng đặt tại ban thờ hay điện thờ mà thôi. Cỗ mặn sơn trang gồm những đồ đặc sản Việt Nam: cua, ốc, lươn, ớt, chanh quả…Nếu có gạo nếp cẩm nấu xôi chè thì cũng thuộc vào lễ này. Theo lệ thường, khi sắm lễ mặn sơn trang, người ta thường sắm theo con số 15:

+ 15 con ốc, cua,

+ 15 quả ớt, chanh hoặc có thể chỉ cần 1 quả nhưng được khía ra làm 15 phần…

Con số 15 này tương ứng với 15 vị được thờ tại ban sơn trang (1 vị chúa, 2 vị hầu cận, 12 vị cô sơn trang)

Văn khấn ban Sơn Trang

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức chúa Thương Ngàn đỉnh thương cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương ngọc điện hạ.

Con kính lạy Đức Thượng Ngàn chúa tể Mị Nương Quế Hoa công chúa tối tú tối linh, cai quản ba mươi sáu cửa rừng mười hai cửa bể.

Con kính lạy chư Tiên, chư Thánh chư Thần, Bát bộ Sơn trang, thập nhị Tiên Nàng, Thánh cô Thánh cậu, Ngũ hổ Bạch xà Đại tướng.

Hương tử con là……………………. Ngụ tại……………………….. Nhân tiết……………

Chúng con thân đến phủ chúa trên ngàn, đốt nén tâm hương kính dâng lễ vật, một dạ chí thành, chắp tay khấn nguyện.

Cúi xin lượng cả bao dung, thể đức hiếu sinh, phù hộ độ tri cho chúng con cùng cả gia quyến chín tháng đông, ba tháng hè được sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, lộc tài vượng tiến, công việc hanh thông, vạn sự tốt lành.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám, phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật! 
#sontrang  

VĂN KHẤN TỨ PHỦ

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)
- Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương
- Con lạy Ngũ Phương, Ngũ Phật, Thập Phương Thập Phật, hằng hà sa số Đức Phật công đức vô lượng vô biên.

- Đức Thế tôn bản sư Thích Ca Mâu Ní Phật.
- Đức Đông phương giáo chủ Dược Sư Lưu Ly Quang Vương Phật.
- Đức Tây phương cực lạc thế giới đại từ đại bi A Di Đà Phật.
- Đức Đương lai hạ sinh Di Lặc Tôn Phật.
- Đức Đại trí Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.
- Đức Đại hạnh Phổ Hiển Bồ Tát.
- Đức đại bi Quán Thế Âm Bồ Tát.
- Đức Đại lực Đại Thế Chí Bồ Tát.
- Đức Đại nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát.
- Đức Đại hiếu Mục Kiền Liên Bồ Tát
- Đức Chuẩn Đề Minh Vương Bồ Tát.

Chư vị Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng vạn linh vạn phép Hộ Pháp chư Thiên, Thiện thần Bồ Tát, Thập bát Long thần, Già Lam Chân Tể.

Con cung thỉnh mời đức Thiên phủ Chí tôn vô sắc giới tứ không, tứ thiên Huyền Khung Kim Quyết Ngọc Hoàng Đại Đế Ngọc Điện Hạ.

Cung thỉnh mời đức Tây Vương Mẫu Nương Nương Diêu Trì Kim Mẫu.

Cung thỉnh mời Đại thánh Nam Tào Lục Tỉ Duyên Thọ Tinh Quân.

Cung thỉnh mời Đại thánh Bắc Đẩu Cửu Hoàn Giải Ách Tinh Quân.

Cung thỉnh Bắc Cực Thiên Trung, Tam Nguyên, Tam Phẩm, Tam Quan.

Cung thỉnh Cửu Tinh Thiên Chúa, Thập Nhị Bát Tú.

Cung thỉnh đức Khuông Quốc Đại Vương Tản Viên Sơn Thánh.

Con cung thỉnh mời đức Địa Phủ chí tôn Bắc Âm Phong Đô Nguyên Thiên Đại Đế Địa Cung Hạ.

Cung thỉnh mời Địa Phủ Thập Diện Minh Vương.

Con cung thỉnh mời đức Thuỷ Phủ chí tôn Phù Tang Cam Lâm Đại Đế Thủy Cung Hạ.

Cung thỉnh mời Thuỷ phủ Bát Đại Long Vương.

Con cung thỉnh mời Ngũ Nhạc Thần Vương Dương Phủ Thánh Đế Quân Ngọc Động Hạ.

Con cung thỉnh mời Lục Cúng Thần Nữ Tứ Vị Thánh Mẫu.

Cung thỉnh mời Mẫu Đệ Nhất Thiên Tiên Cửu Trùng Thanh Vân Lục Cung Bán Thiên Công Chúa Thiên Cung Hạ.

Cung thỉnh mời Mẫu Đệ Nhị Địa Tiên Quỳnh Hoa Liễu Hạnh Mã Hoàng Công chúa Sắc Phong Chế Thắng Hòà Diệu Đại Vương Địa Cung Hạ.

Cung thỉnh mời Mẫu Đệ Tam Thoải Tiên Thuỷ Tinh Công chúa Xích Lân Long Nữ Tinh Cung Hạ.

Cung thỉnh mời Mẫu Đệ Tứ Nhạc Tiên Diệu Tín Diệu Nghĩa Thiền Sư Tuần Quán Đông Cuông Thượng Đẳng cao sơn triều mường Sơn Tinh công Chúa Lê Mại Đại Vương Lâm Cung Hạ.

Cung thỉnh mời nhị vị trưởng quản Sơn Lâm Bạch Anh Mị Nương La Bình Công chúa:

Con cung thỉnh mời hội đồng văn võ Trần Triều Hiển Thánh:

Cung thỉnh mời đức ông Trần Triều Quốc Công Tiết Chế Hưng Đạo Đại Vương.

Cung thỉnh mời Trần Triều Vương Phụ, Trần Triều Vương Mẫu, Trần Triều Vương Phu Nhân, Trần Triều Vương Huynh, Trần Triều Vương Đệ.

Cung thỉnh mời tứ vị Vương Tử Đại Vương, thỉnh mời Trần Triều Phò Mã đức ông Phạm Ngũ Lão Diện Suý Tôn thần.

Cung thỉnh mời Nhị Vị Vương Cô Hoàn Thánh.

Cung thỉnh mời Cô Bé Cửa Suốt, Cậu Bé Cửa Đông.

Cung thỉnh mời tả quan Nam Tào, hữu quan Bắc Đẩu, văn võ bá quan quân thần trần triều, binh hùng tướng mạnh dẹp giặc Nguyên Mông.

Con cung thỉnh mời hội đồng chúa Mán, Mường, Nùng, Dao, Sơn Trại, Chúa Sơn Lâm, Chúa Sơn Trang 18 cửa ngàn 12 cửa bể, Bát Bộ Sơn Trang, Tám Tướng Hùng Binh, Thập Nhị Tiên Nàng.

Cung thỉnh mời Tam thập lục Chúa Bà: 12 bà Chúa Bói, 12 bà Chúa Chữa, 12 bà Chúa Tài lộc.

Con cung thỉnh mời Ngũ Vị Vương Suan, Lục Phủ Tôn Quan.

Con cung thỉnh mời Tứ Phủ Chầu Bà, ba bà Chầu Thiên, ba bà Chầu Nhạc, ba bà Chầu Thoải, ba bà Chầu Địa.

Con cung thỉnh mời Tứ Phủ Thánh Hoàng, thập vị Hoàng Tử Thoải Cung.

Con cung thỉnh mời Tứ Phủ Thánh Cô, các cô trên ngàn, các cô dưới thoải, các cô bồng đảo bồng lai, các cô trấn thủ cửa rừng, cung thỉnh mời Cô Bé bản đền tối linh.

Con cung thỉnh mời Tứ Phủ Thánh Cậu, cung thỉnh mời Cậu Bé bản đền.

Con cung thỉnh mời Ngũ Dinh Thiên Tướng, Ngũ Hổ Thần Quan, Thanh Xà Thần Tướng, Bạch Xà Thần Quan, tả Thiên Nhiên, hữu Lực Sĩ.

Con cung thỉnh mời hội đồng các bóng các giá 18 cửa ngàn 12 cửa bể.

Con cung thỉnh mời Chầu, Chúa thủ đền, Quan thủ điện, Thân kì, Thần linh, Sơn thần, Thổ Địa bản xứ.

Đệ tử con tên là:......... tuổi:......

Ngụ tại:.........

Kim niên kim nguyệt cát nhật lương thời.

Hôm nay ngày:... Tháng:... Năm:...

Đệ tử con nhất tâm một lòng, nhất tòng một đạo, nhất tâm trí thiết, nhất dạ chí thành, đêm tưởng ngày mong, tu thiết hương, hoa, đăng, trà, quả, thực mang miệng về tâu, mang đầu về bái, trên con tấu thượng thiên, dưới con đệ trình long cung thủỷ phủ cùng đồng gia quyến đăng bái yết cửa đình thần tam tứ phủ........ (tên đền) linh từ.

Mong trên cha độ, dưới mẫu thương, đèn trời đuốc biển soi đường dẫn lối, phù hộ độ trì cho quốc thái dân an, mưa thuận gió hòa, che trở cho gia chung chúng con bình an vô sự, vạn sự như ý, có bệnh thì tan, có nạn thì qua, tai quan nạn khỏi ......

Giãi tấm lòng thành cúi xin Phật Thánh Chúa Tiên anh linh chứng giám!

Cung thỉnh Công Đồng Lục Cung Tiên Tổ dòng họ..... nguyên quán....., Tổ Cô Mãnh Tướng, Cậu Bé Cô Bé tại gia, chư vị vong linh trong dòng họ đang hầu hạ Phật Thánh, làm đầy tôi kẻ tớ tại các bản đền bản phủ tấu đối phụng đình cho con cháu cầu sao được vậy...

Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Cẩn tấu!
#den #tuphu

VĂN KHẤN THẦN LINH KHI NHẬP TRẠCH

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Con kính lạy:

  • - Chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

  • - Hoàng Thiên, Hậu Thổ chư vị tôn Thần.

  • - Các ngài Thần linh bản xứ cai quản trong xứ này.

Hôm nay là ngày.....tháng....năm....

Tín chủ con là:.....

Ngụ tại:......

Thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật và các thứ cúng dâng bày lên trên án, trước bản toạ chư vị Tôn thần kính cẩn tâu trình:

Các Ngài Thần linh thông minh chính trực giữ ngôi tam thai, nắm quyền tạo hóa, thể đức hiếu sinh của trời đất, phù hộ dân lành, bảo vệ sinh linh, nêu cao chính đạo.

Nay gia đình chúng con hoàn tất công trình, chọn được ngày lành dọn đến cư ngụ, phần sài nhóm lửa, kính lễ khánh hạ cầu xin chư vị minh thần, gia án tác phúc, độ cho gia đình chúng con an ninh, khang thái, làm ăn tiến tới, tài lộc dồi dào. Cúi mong ơn đức cao dày, thương xót, phù trì bảo hộ.

Tín chủ lại mời các vong linh Tiền chủ, Hậu chủ ở trong nhà này, đất này xin cùng về đây chiêm ngưỡng Tôn thần, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ thịnh vượng, an khang. Bốn mùa không hạn ách nào xâm, tám tiết đều hưởng phú quý thịnh vượng.

Giãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Cẩn cáo!

VĂN KHẤN CÁO YẾT GIA TIÊN KHI NHẬP TRẠCH

Nam mô A Di Đà Phật ! (3 lần)

Kính lạy Hội đồng Gia tiên, Tiền tổ nội ngoại.

Hôm nay là ngày ... tháng... năm.....

Gia đình chúng con mới dọn đến đây là: (địa chỉ).....

Thiết lập linh sàng, sửa biện lễ vật, bày trên bàn thờ, trước linh toạ kính trình Hội đồng Gia tiên, Tiền tổ, các cụ nội ngoại (ông, bà, cha, mẹ... Nếu đã mất). Nhờ hồng phúc Tổ tiên, (ông, bà, cha, mẹ... Nếu đã mất), chúng con đã tạo lập được ngôi nhà mới, hoàn tất công trình, chọn được ngày lành tháng tốt, thiết lập ấn thờ, kê giường nhóm lửa, kính lễ khánh hạ.

Cúi xin Hội đồng Gia tiên, Tiền tổ cùng chư vị hương linh nội ngoại thương xót con cháu, chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật, phù hộ độ trì cho chúng con, lộc tài vượng tiến, gia đạo hưng long, cháu con được chữ bình an.

Anh linh chiếu giám, cảm niệm ơn dày.

Giãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Cẩn cáo!

 


VĂN KHẤN LỄ NHẬP TRẠCH

Y nghĩa:

Lễ nhập trạch được hiểu là lễ dọn vào nhà mới được áp dụng cả nhà mới xây lẫn nhà mới mua. Đây là một nghi lễ rất quan trọng bên cạnh lễ động thổ, cất nóc (nếu là nhà xây). Làm lễ nhập trạch tức là yết cáo với Thần linh, Thổ Địa nơi ngôi nhà đã tọa lạc về sự có mặt của mình và mình sẽ sống trong ngôi nhà này (giống kiểu thông báo thường trú với địa phương nơi mình sinh sống).

Vật dụng mang vào hay cần hoàn thiện trước khi làm lễ nhập trạch:

  • - Bếp (nên hoàn thiện trước).

  • - Bàn thờ: Bao gồm các đồ bày trí như bát hương.

  • - Gạo, muối, nước (thường tự lấy ở nhà mới).

  • - Đồ dùng tượng trưng (bàn ghế, chổi, chiếu...).

Khi vào nhà mới, không quan trọng là ai trong gia đình phải cầm vật dụng gì nhưng ai cũng nên có đồ mang vào, không nên đi tay không. Người trong gia đình bất cứ tuổi nào đều có thể vào, không phải kiêng kỵ.

- Đồ cúng: Hương, hoa tươi, đèn nến, năm loại quả, vàng mã, kẹo bánh cùng một mâm mặn (xôi, gà, rượu, thịt....). Tùy từng nơi thì đồ cúng sẽ khác nhau đôi chút.

Đúng giờ đã chọn thì đun nước để kích hoạt trường khí tốt tại khu bếp. Thắp hương và cắm vào các bát hương, ưu tiên bát Thần linh ở giữa cắm trước.

Thời gian chuyển nhà tốt nhất nên vào buổi sáng hoặc buổi trưa, không nên chuyển nhà vào buổi tối.

Thủ tục nhập trạch:

Khi vào nhà mới, vật đầu tiên mang vào là cái chiếu (hoặc đệm) đang sử dụng, sau đó là bếp lửa, (bếp ga, bếp dầu), không nên mang bếp điện vì bếp điện có tinh mà không có tướng (tức chỉ có nhiệt mà không có ngọn lửa), chổi quét nhà, gạo, nước ... lễ vật để cúng Thần linh trước để xin nhập trạch và xin phép Thần linh rước vong linh Gia tiên về nơi ở mới để thờ phụng.

Lễ vật được để lên ban hoặc mâm kê vào chỗ nào đó mà có hướng đẹp với gia chủ, tự tay gia chủ thắp nhang vào một bát nhang làm tạm thời. Thắp nhang và khấn lễ, tiếp ngay sau đấy gia chủ châm bếp và đun nước. Khấn Thần linh với nội dung sau:

  • - Xin nhập vào nhà mới

  • - Xin lập bát nhang thờ Thần linh

  • - Xin phép Thần linh cho rước vong linh Gia tiên nhà mình về nơi ở mới này để thờ phụng

Lưu ý:

  • - Nước đun trên bếp lần đầu tiên ở nhà mới phải để cho sôi 5

  • - 10 phút, lâu hơn càng tốt, mới tắt lửa. Đun nước mục đích là để khai bếp, pha trà dâng Thần linh và Gia tiên. (Còn gọi là phần sài hoặc quy hoa, tức là bắt đầu dọn vào ở, đun bếp tại nhà khi mới làm hoặc sửa chữa xong, nếu nhà có bàn thờ Phật thì cúng Phật trước). Nếu có khách có thể lấy nước đó để pha nước mời khách.

  • - Nếu chỉ nhập trạch lấy ngày tốt chưa có nhu cầu ở ngay thì gia chủ phải ngủ một đêm tại nhà mới.

  • - Sau khấn Thần linh xong, gia chủ làm lễ cáo yết Gia tiên rồi mới dọn dẹp đồ đạc.

Sau khi dọn xong, để cầu bình yên, toàn gia phải tổ chức lễ bái tạ các Tổ tiên và Thần Phật.

Những điểm chú ý:

Đối với người mang thai thì tốt nhất không nên dọn nhà.

Trong trường hợp cấp bách thì nên mua một cái chổi mới tinh, để đích thân người mang thai quét qua các đồ đạc một lượt rồi mới chuyển như vậy mới không phạm tội "Thần thai" vì thế mọi người nên lưu ý.

Ngoài ra người giúp dọn nhà không được là người cầm tinh con Hổ, còn lại không phải lo bàn gì nữa.

VĂN KHẤN YẾT CÁO GIA THẦN, GIA TIÊN
(KHI CƯỚI GẢ)

Nam mô a di Đà Phật! (3 lần)

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Hoàng Thiên, Hậu Thổ, chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ Địa, ngài Bản gia Táo Quận cùng chư vị Tôn thần.

Con kính lạy tiên họ....... chư vị hương linh.

Tín chủ chúng con là:.......

Ngụ tại:......

Hôm nay là ngày..... tháng.. ..năm....

Tín chủ con có con trai (con gái) kết duyên cùng ......

Con của ông bà......

Ngụ tại:......

Nay thủ tục hôn lễ đã thành. Xin kính dâng lễ vật, dâng lên trước án.

Kính lạy trước lính toạ Ngũ tự Gia thần chư vị Tôn linh, trước lính bài liệt vị Gia tiên, trước Phúc tổ Di Lai, Ông Tơ bà Nguyệt. Kin kính cẩn khấn cầu:

Sinh trai có vợ (nếu là nhà trai),
Sinh gái có chồng (nếu là nhà gái)

Lễ mọn kính dâng,
Duyên lành gặp gỡ,
Giai lão trăm năm,
Vững bền hai họ,
Nghi thất nghi gia,
Có con có của.

Cầm sắt giao hoà,
Trông nhờ phúc Tổ.

Giãi tấm lòng thành, xin được phù hộ độ trì.

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Cẩn cáo!

VĂN KHẤN HÔN NHÂN - CƯỚI HỎI

Ý nghĩa:

Hôn nhân là một trong những việc hệ trọng nhất trong vòng đời của mỗi con người. Hôn nhân xuất phát từ tình cảm giữa nam và nữ, sau một thời gian tìm hiểu họ đến với nhau trong sự đồng ý của gia đình và pháp luật.

Mỗi miền sẽ có những tục cưới hỏi khác nhau nhưng nhìn chung có những lễ chính không thể thiếu là chạm ngõ, ăn hỏi và cưới. Vào những ngày này hai bên gia đình nhà trai và gái đều phải làm lễ yết cáo Gia thần, Gia tiên của nhà mình để báo cáo với Thần linh và Tổ tiên về việc sắp thêm một thành viên mới trong gia đình.

Sắm lễ thắp hương:

1. Lễ Dạm ngõ (Chạm ngõ)

Đây là lễ gặp mặt đầu tiên, chính thức của hai gia đình nhà trai, nhà gái và được xem là thủ tục cần thiết để "người lớn" thưa chuyện với nhau.

Lễ vật trong Dạm ngõ rất đơn giản chỉ gồm chục trầu cau, chè, thuốc và bánh kẹo với số lượng chắn. Có những nơi chỉ cần một

"guả" nhỏ bên trong để bông hồng và trầu đã kết thành hình con phượng, hoặc trục cau với bông hồng. Tùy từng nơi thì lễ vật có thể ít nhiều nhưng không bao giờ thiếu lá trầu quả cau vì các cụ ta xưa nay có câu: "Miếng trầu là đầu câu chuyện".

2. Lễ Ăn hỏi

Nhà trai:

Ngoài đồ ăn hỏi theo phong tục để mang đến nhà gái ra, nhà trai sẽ chuẩn bị hương thơm, hoa quả tươi cùng bánh kẹo để đặt lên ban thờ cúng nhằm yết cáo Gia thần, Gia tiên về việc cưới hỏi.

Có những gia đình chuẩn bị cả mâm cỗ mặn thịnh soạn để cúng.

Nhà gái:

Tùy từng vùng miền mà lễ nhà trai mang đi hỏi cưới có những vật phẩm khác nhau nhưng tuyệt đối không thể thiếu trầu cau, chè, thuốc và các loại bánh của từng vùng miền (như bánh phu thê, bánh cốm....)

Tráp (Quả) ăn hỏi có thể gồm 3, 5, 7, 9 hoặc 11 tráp nhưng phải là số lẻ và lễ vật trong các tráp phải là bội số của 2. Đồ lễ ăn hỏi không thể thiếu là bánh cốm, bánh su sê, mứt sen, chè, rượu, trầu cau, thuốc lá... và một số nơi có thêm lắng quả, xôi hoặc lợn sữa quay. Tùy từng địa phương mà tráp lễ có thể ít hay nhiều.

Nhà gái sẽ lấy ra một ít vật phẩm từ đồ lễ mà nhà trai mang tới như trầu cau, chè thuốc... để mang lên bàn thờ Tổ tiên thắp hương thông báo việc cưới hỏi của con mình.

3. Lễ cưới

Một số vùng như Hà Nội, trước khi đón dâu mẹ chồng sẽ mang một cơi trầu nhỏ sang để thông báo việc nhà trai sắp đón dâu để nhà gái chuẩn bị. Việc này nhiều nơi thường gọi là lễ "Xin dâu", sau đó mẹ chồng sẽ về và tránh mặt cô dâu mới cho đến khi cô dâu mới làm lễ ở Gia tiên bên nhà chồng.

VĂN KHẤN TẾT ĐOAN NGỌ

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

Con kính lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chu Phật mười phương
Con kính lạy Hoàng Thiên, Hậu Thổ, chư vị Tôn thần.

Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ Địa, ngài Bản gia Táo Guân cùng chư vị Tôn thần.

Chúng con kính mời ngài Bản cảnh Thành Hoàng, Chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ Địa, ngài Bản gia Táo Quân, Ngũ Phương, Long Mạch, Tài thần.

Tín chủ chúng con là: .........

Tuổi:......

Ngụ tại:........

Hôm nay là ngày Tết Đoan Ngọ, chúng con sắm sanh lễ vật, hương hoa dâng lên trước án. Cúi xin các Ngài giáng lâm trước án chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật.

Chúng con kính mời các cụ Tổ Khảo, Tổ Tỷ, chư vị hương linh Gia tiên nội ngoại trong họ. Cúi xin các vị thương xót con cháu chứng giám tâm thành thụ hưởng lễ vật.

Tín chủ con lại kính mời các vị Tiền chủ, Hậu chủ tại nhà này, đất này đồng lâm án tiền, đồng lai hâm hưởng, độ cho chúng con an ninh khang thái, bản mệnh bình an. Bốn mùa tai ách đi qua, tám tiết hưởng bình an thịnh vượng.

Giãi tấm lòng thành cúi xin chứng giám.

Nam Mô A Di Đà Phật! (3 lần, 3 lạy)

Cẩn cáo!
 

TẾT ĐOAN NGỌ

(Tết giết sâu bọ)

Ý nghĩa:

Trong ca dao Việt Nam có câu:

"Tháng Tư đong đậu nấu chè,

Ăn Tết Đoan Ngọ trở về tháng Năm".

Tết này diễn ra vào ngày 5 tháng 5 Âm lịch. Đây là lễ tiết mùa hè thể hiện ý nguyện cân bằng thiên nhiên, xua đi những gì bệnh tật, hướng tới một mùa gặt hái được mùa.

"Đoan" nghĩa là mở đầu, "Ngọ" là khoảng thời gian từ 11 giờ sáng tới 1 giờ chiều, và ăn tết Đoan Ngọ là ăn vào buổi trưa. Đoan Ngọ lúc mặt trời bắt đầu ngắn nhất, ở gần trời đất nhất trùng với ngày Hạ chí. Tết Đoan Ngọ còn được gọi là Tết Đoan Dương.

Dân gian còn gọi ngày Tết Đoan Ngọ là Tết giết sâu bọ, là ngày phát động bắt sâu bọ, tiêu diệt bớt các loài gây hại cho cây trồng trên cánh đồng, trong đó nhiều loài sâu có thế ăn được và chúng được coi như là chất bổ dưỡng

Tết Đoan Ngọ là dịp người ta thường ăn tết ở nhà với gia đình.

Buổi sáng sớm ngày Tết Đoan Ngọ người ta ăn bánh tro, trái cây, và rượu nếp để giết sâu bọ, bệnh tật trong người. Thường lệ người ta ăn rượu nếp tức thì sau khi họ ngủ dậy.

Nhiều người tắm nước lá mùi để phòng bệnh và tẩy trừ "sâu bọ". Nhiều địa phương ở ven biển đúng giờ Ngọ họ đi tắm biển.

Cũng theo quan niệm đó, các loại cây lá hái trong thời gian này có tác dụng chữa bệnh tốt nhất nên các thầy thuốc thường lên núi hái thuốc.

Sắm lễ thắp hương:

Trong ngày Tết này mâm cúng gồm:

  • - Hương thơm, hoa, vàng mã.

  • - Rượu nếp, nước tinh khiết.

  • - Hoa quả tươi (thường dâng cúng những loại hoa quả có vị chua, ngọt như: mận, vải, chôm chôm, xoài...)

  • - Ngoài ra ở mỗi vùng lại cúng thêm những vật phẩm khác nhau. Miễn Bắc có bánh gio, rượu nếp (cái rượu nếp). Miền Trung thì lại cúng rất nhiều bánh gio (tro), nhà nào cũng cúng ít nhất 30 chiếc bánh. Miền Nam thì trên mâm cúng không thể thiếu thịt vịt.

 

Người đã thích
Đang tải danh sách...