Cô Đôi Cam Đường, sự tích về hai cô gái bán vải vùng Lào Cai

 

Cô Đôi Cam Đường là ai?

Cô Đôi Cam Đường không phải là một nhân vật thuộc hệ thống Tứ Phủ Thánh Cô mà “Cô Đôi Cam Đường” ở đây chỉ mang nghĩa đơn giản là hai cô gái quê gốc tại đất Đình Bảng tỉnh Bắc Ninh sau hiển linh trên đất Cam Đường nên dần được người dân gọi là Cô Đôi Cam Đường.

Cô Đôi Cam Đường là hình ảnh tượng trưng của một nhân thần chịu khó chịu thương và mang hình bóng dáng dấp của người phụ nữ Việt Nam cần cù, tần tảo.

Sự tích Cô Đôi Cam Đường

Lúc bấy giờ, vùng Lào Cai vốn là một nơi giao thương tấp nập, thương nhân buôn bán từ khắp nơi trên mọi miền đều quy tụ tại đây để tham gia buôn bán. Có hai cô gái trẻ quê tại vùng Đình Bảng, Bắc Ninh đã cùng nhau tới đây để buôn bán tơ lụa vải vóc và trao đổi các sản phẩm khác tại khu vực làng Chiềng On. Thực ra, hai cô đều là người của triều đình được giao cho nhiệm vụ lên vùng Lào Cai thăm dò tình hình giặc Thanh nhằm giúp đỡ quân kháng chiến. Mặc dù không hề hay biết về thân thế nhưng người dân làng Chiềng On nơi đây đều rất quý mến hai cô, mối quan hệ giữa hai cô gái và dân làng rất thân thiết và khăng khít. Bẵng đi sau đó, dân làng không còn thấy hai cô tới bán vải nữa cho tới một hôm có người phát hiện ra xác của hai cô trôi theo dòng suối dạt về làng. Dân làng ai cũng xót thương và lập một ngôi miếu thờ hai cô tại nơi đây. Có người nói, trong lúc bí mật hỗ trợ tiếp tế cho quân ta chống giặc hai cô gái đã bị phát hiện và giết chết, sau đó xác hai cô gái bị ném trôi theo dòng suối trôi về làng Chiềng On.

Điều lạ lùng sau đó là dân làng Chiềng On đều làm ăn thuận lợi, mùa màng bội thu… Người ta cho rằng đó là do hai cô gái trẻ đã linh ứng phù hộ cho người dân nơi đây có một cuộc sống hạnh phúc và no ấm. Sau đó nhờ tiếng lành đồn xa mà ngoài dân làng ra, nhiều du khách hàng hương phương xa cũng đã đến đây để chiêm bái miếu hai cô và tưởng nhớ công ơn hai cô đã đóng góp. Ngôi miếu thờ hai cô sau này đã được tu sửa và xây dựng lại thành Đền Cô Đôi Cam Đường như ngày nay.

Đền Cô Đôi Cam Đường

Đền Đôi Cô Cam Đường có địa chỉ tại thôn Chiềng On, xã Cam Đường hay thuộc phường Bình Minh, thành phố Lào Cai chính là đền thờ Đôi Cô.

Trải qua nhiều biến cố chiến tranh lịch sử, đền Đôi Cô vẫn tồn tại đến ngày nay đã được tu sửa và xây dựng lại thành một nơi rộng rãi an khang đáp ứng được những nhu cầu và hoạt động văn hóa tâm linh của những du khách trên mọi miền về đây ghé thăm.

Hầu giá Cô Đôi Cam Đường

Vì không nằm trong hệ thống thần linh Tứ Phủ nên Cô Đôi Cam Đường chỉ được thỉnh sau giá Cô Bé. Khi ngự về đồng cô thường mặc trang phục màu xanh lá, buộc khăn mỏ quạ, trên đầu đeo nón quai thao giống như dân Kinh Bắc. Vai đỡ đòn gánh hai đầu đựng vải vóc, tơ lụa.
 

Bản văn Cô Đôi Cam Đường

Dưới đây là bản văn Cô Đôi Cam Đường được Oản Tài Lộc sưu tầm:

Lòng thành thắp một tuần hương
Dâng văn sự tích Cam Đường tiên cô
Quê nhà ở đất xưa Đình Bảng
Dòng nối dòng buôn bán vải tơ
Cô quản gì nắng sớm chiều mưa
Cong cong đòn gánh sớm trưa cho đời
Nào tơ lụa vải sồi lĩnh tía
Đủ mặt hàng chẳng thiếu thức chi
Chiều chiều quảy gánh ra đi
Lung linh got ngọc quảy đi cho đời
Cô tới đâu hoa cười chim hót
Các bản làng nhẹ gót thênh thênh
Suối khe đồi núi gập ghềnh
Vải tơ đem đến ấm tình ngược xuôi
Dân đâu đấy nhớ người tiên nữ
Dáng thanh thanh mắt tựa sao sa
Thơm thơm tóc phượng dà dà
Hây hây má phấn da ngà lưng ong
Núm đồng tiền dáng trông ngọc thuyết
Nở nụ cười vẻ nguyệt in hoa
Khăn vuông đen thẫm đậm đà
Lưng đeo xà tích tai hoa bấm vàng
Áo đổi vai dịu dàng vạt thắt
Mối lưng bao nhiệm nhặt đường cong
Tư trời sánh với trăng trong
Công dung ngôn hạnh đức cùng thanh tao
Sở mãn hạn thiên tào bỗng gọi
Trở về trời để lại nhớ thương
Người tiên gửi đất Cam Đường
Dấu tiên để lại bốn phương phụng thờ
Thuở sinh thời vải tơ đem đến
Lúc về trời vẫn hiện đêm khuya
Canh ba quảy gánh đi về
Tay tiên hái quả trẩy huê cho đời
Sang canh tư dạo chơi các bản
Gọi chim rừng gợi sáng canh năm
Anh linh nức tiếng bốn phương
Có cô tiên nữ Cam Đường thiêng thay
Dân đâu đó đêm ngày nguỡng mộ
Đội ơn cô tế độ sinh nhân
Ban tài tiếp lộc xa gần
Kêu sao được vậy nhân dân ơn nhờ
Đoi đãy nải thủa xưa ghi lại
Cô Cam Đường tiếng mãi mai sau
Hôm nay dâng tiến văn chầu
Cung đàn tiếng hat đôi câu tâm thành
Cô về lai giáng điện đình
Xin cô bốn chữ khang ninh thọ trường

Ngày tiệc Cô Đôi Cam Đường

Hằng năm vào ngày 13 tháng 9 âm lịch là ngày tiệc chính của Cô Đôi Cam Đường. Vào ngày này tại đền Cô Đôi Cam Đường rất nhiều du khách trên khắp mọi miền cả nước đổ về đây để thăm quan cũng như lễ bái cầu mong đôi cô phù hộ.

Ngoài ra còn có những ngày lễ hội khác trong năm được diễn ra tại đây như:

  • Lễ Tết Thượng Nguyên (ngày 10 tháng 1 âm lịch)

  • Lễ vào hè (ngày 10 tháng 4 âm lịch)

  • Lễ ra hè (ngày 10 tháng 7 âm lịch)

Đi lễ Cô Đôi Cam Đường cầu gì?

Chính nhờ sự tích về Cô Đôi cho rằng từ khi lập miếu thờ, công việc làm ăn của người dân nơi đây đã trở nên rất phát đạt, cuộc sống no đủ hạnh phúc. Chính vì thế nên những người tới thờ Cô Đôi Cam Đường đều để xin sự buôn may bán đắt, công việc làm ăn phát đạt và thuận lợi.

Dâng lễ Cô Đôi Cam Đường

Ngoài những lễ vật thông thường như lễ chay (hoa tươi, quả ngọt, hương nhang…) hay lễ mặn (xôi, giò, thịt…) thì các bạn có thể tham khảo thêm các sản phẩm Oản lễ màu xanh lá.

copy từ oantailoc 

#cocamduong 

Muốn chuẩn bị bàn thờ tu tập đạo 

1. Định nghĩa "Cửu Huyền Thất Tổ"

  • Cửu Huyền Thất Tổ là gì: Không chỉ gói gọn trong ông bà, cha mẹ ở kiếp sống hiện tại, mà Cửu Huyền Thất Tổ bao hàm tất cả ông bà, cô bác, tổ tiên từ rất nhiều đời, nhiều kiếp trước.

2. Ý nghĩa và Phương pháp "Hồi hướng công đức"

  • Mối quan hệ tương hỗ Âm - Dương: Phần âm (người đã khuất) phải nương nhờ vào phước báu, công đức của phần dương (người còn sống) để siêu thoát; ngược lại, phần dương tu tập tốt cũng sẽ được phần âm che chở, độ trì.

  • Cách thực hiện:

    • Hàng ngày, con người phải quán xét bản thân, sám hối tội lỗi và giữ cho tâm, khẩu, ý (tham, sân, si) không khởi lên những vọng tưởng để thân xác được thanh tịnh.

    • Phải tu hành, giữ gìn đạo hạnh và khấn nguyện cụ thể: Nêu rõ ngày tháng, nguyện đem công đức tu hành hoặc công đức ăn chay thanh tịnh hiện có để hồi hướng cho nhiều đời nhiều kiếp Cửu Huyền Thất Tổ, ông bà cha mẹ hoặc các linh hồn cần siêu độ.

3. Quy luật thiện - ác của người âm sau khi chết

Tính cách khi còn sống sẽ quyết định linh hồn sau khi chết, chia làm hai hướng:

  • Hướng thuận (Tu hiền): Những người sinh thời sống hiền từ, tu tâm tích đức thì khi mất đi, linh hồn họ vẫn giữ được sự hiền từ, thông minh và sáng suốt. Họ sẽ nương nhờ Phật pháp để tiếp tục tu lên thành thần, thánh, tiên, phật và quay lại độ trì con cháu.

  • Hướng nghịch (Ác nghiệp): Những người sinh thời sân si, hung bạo, sống ác ôn thì khi mất đi linh hồn họ vẫn giữ bản tính hung tợn. Họ có thể biến thành ma quỷ, mang lòng thù hận quay về quấy phá gia đình, đòi ăn uống, thậm chí xúi giục hoặc bắt người sống chết theo để làm binh lính cho họ.

    • Ví dụ thực tế: Thầy Chung kể một ca ở Long An, một người bác trong gia đình sinh thời hành xử như giang hồ, khi chết đi thành quỷ đã quay về bóp cổ cháu ruột và có ý đồ tà dâm với em dâu. Thầy đã phải đến trấn áp, siêu độ và hướng dẫn gia đình cúng kiến để giải thoát cho linh hồn đó.

  • Khi vong ác trong Cửu Huyền quậy phá quá mức, bề trên (Trăm quan, Vạn ban) sẽ xoay chuyển định số, đưa đường dẫn lối để gia đình gặp được thầy chánh đạo giúp xử lý, cứu người lương thiện.

4. Cơ chế "Khoa học Tâm linh": Sự Đầu thai và Khái niệm "Làn chân điện"

Để giải thích cho mâu thuẫn: "Nếu chết đi đã đi đầu thai thì lấy ai ở lại để che chở con cháu?", thầy đưa ra cơ chế hoạt động của linh hồn thông qua khái niệm "Làn chân điện":

  • Bản chất của linh hồn: Khi chết đi, con người chỉ vứt bỏ phần "thân xác phàm" (như cái vỏ), nhưng năng lượng cốt lõi hay còn gọi là "làn chân điện" thì không bao giờ mất đi.

  • Cơ chế luân hồi: Chuyển kiếp được ví như việc thay đổi lớp vỏ thiết bị điện. Kiếp này thân xác là "chiếc quạt máy", kiếp sau đổi thành "bàn ủi", kiếp sau nữa là "nồi cơm điện" — hình hài thay đổi nhưng "dòng điện" chạy bên trong vẫn là một

  • Sự lưu trữ nghiệp quả: Mọi sự thông minh, sáng suốt, phước báu hay tính hung tợn, ác độc từ nhiều đời nhiều kiếp đều được tích tụ và lưu giữ trọn vẹn bên trong "làn chân điện" này. Nhờ năng lượng tích tụ từ vô lượng kiếp, kiếp hiện tại một người có thể được sinh ra thân thể trang nghiêm, thông minh, giàu có

  • Không phải ai cũng lập tức đầu thai: Có những linh hồn sáng suốt không muốn đi luân hồi chuyển kiếp ngay. Họ chọn ở lại dùng "làn chân điện" dồi dào của mình nương nhờ Phật pháp tu lên các cảnh giới cao hơn (Tiên, Phật, Bồ Tát) để cứu nhân độ thế và tiếp tục ở lại không gian tâm linh che chở cho con cháu mình

1. Khái Niệm Về "Binh Âm" (Binh Gia)

Binh âm nói chung là các linh hồn (ma, quỷ, tinh), được chia thành hai hệ phái chính: Binh Chánh Đạo (Binh Cửu Huyền) và Binh Tà Đạo.

A. Binh Cửu Huyền (Binh Chánh Đạo)

  • Định nghĩa: Là binh gia thuộc về ông bà, tổ tiên, cửu huyền thất tổ hoặc những bậc tu hành chân chính theo đường lối chánh đạo. Họ quy tụ lại để phò trợ cho hậu duệ hoặc người có căn duyên hành nghề cứu đời, độ thế (thầy pháp chánh đạo).

  • Cơ cấu tổ chức trong phần căn:

    • Khi một người ra căn (mở phủ, "vỡ xác"), các vong linh trong dòng họ sẽ tề tựu theo thứ bậc: người về đầu tiên làm Trưởng Dục Quân, người kế tiếp làm Phó Dục Quân, và những người sau làm binh sĩ.

  • Đặc điểm & Trách nhiệm:

    • Hồn nương xác, xác nương hồn: Thầy pháp chánh đạo phải tu hành tinh tấn, nương nhờ năng lực và sự phò trợ của binh cửu huyền để làm việc thiện, tích lũy công đức

    • Gánh nặng của người thầy: Người thầy phải có hiếu, biết cúng bái đầy đủ và hồi hướng công đức cho Cửu Huyền Thất Tổ vì binh gia thường rất đói khát

    • Cách cúng bái: Nên cúng đồ nửa chay nửa mặn, cúng giấy tiền, gạo muối, quần áo (đặc biệt vào dịp đầu năm/mùng 7 Tết). Khi ghi giấy tiền vàng bạc cho âm binh/ông bà, người ta thường ghi ngược địa danh (ví dụ: An Giang tỉnh)

B. Binh Tà Đạo (Binh Ma Quỷ Bên Ngoài)

  • Định nghĩa: Là những linh hồn ma quỷ, tà tinh bên ngoài được các thầy tà đạo chiêu mộ, ép buộc, hoặc luyện tập bằng bùa chú, tà thuật để sai khiến làm việc xấu

  • Cách thức luyện tập & Chiêu mộ:

    • Thầy tà dùng bùa chú, uy lực mạnh để trấn áp, ép các linh hồn ma quỷ quy tụ về dưới trướng.

    • Thiên Linh Nhi / Thiên Linh Cái:

      • Là việc luyện linh hồn của trẻ em (nam gọi là Thiên Linh Nhi, nữ gọi là Thiên Linh Cái).

      • Trong các tà thuật cực đoan, thầy tà có thể tìm sọ người (luộc nước sôi, lột da) để luyện linh hồn nhập vào sọ nhằm sai khiến làm việc ác, thăm dò đời tư gia chủ (như biết trong nhà có bao nhiêu chén đũa) để lấy lòng tin trục lợi

      • Đôi khi tà sư dùng thiên linh để quậy phá, gây tai nạn, thậm chí đổi hồn đổi xác nạn nhân

    • Nuôi Ngãi:

      • Ban đầu nuôi bằng trứng gà, sau đó cho ăn gà (thậm chí có loại ngãi cao cấp hơn ăn thịt động vật lớn hoặc xác người tùy theo tà sư luyện tập)

      • Ngãi được đặt tên và sai khiến đi hãm hại người khác (như làm bệnh, bóp cổ, xô ngã gây tai nạn xe)

  • Kết cục của tà đạo: Dù hoành hành đến đâu, những người theo tà đạo cuối cùng cũng sẽ gặp tai ương, bị chừng trị bởi luật luân hồi hoặc năng lực linh thiêng của Cửu Huyền Thất Tổ 

2. Tổng Kết Các Điểm Cốt Lõi

  1. Binh chánh (Cửu Huyền): Dựa trên đạo đức, sự tu dưỡng, tình thân tộc và công đức cứu người; được ông bà độ trì, che chở qua những hoạn nạn 

  2. Binh tà (Ma quỷ, ngãi, thiên linh): Dựa trên sự ép buộc, bùa chú, tham vọng trục lợi của thầy tà để hãm hại người khác, cái kết thường bi thảm và mang nghiệp quả nặng nề.

  3. Quy luật nhân quả: Tâm sáng, sống có hiếu và tu hành chánh đạo sẽ nhận được sự gia hộ từ tổ tiên; ngược lại, đi theo tà thuật sớm muộn gì cũng chịu sự trừng phạt nghiêm khắc.

    Dựa theo chia sẻ của Thầy Chung - An Giang

Ban Sơn Trang là gì, thờ những ai ? 

Tục thờ Sơn Trang là một tục thờ tối cổ của người Việt; ra đời từ thời Âu Lạc; cách đây cỡ 2000 năm. Còn tục thờ Tứ Phủ có lẽ chỉ thịnh hành khi có xuất hiện Thánh Mẫu Liễu Hạnh cách đây hơn 600 năm. Như vậy; Tục thờ Sơn Trang ban đầu là một tín ngưỡng riêng biệt không phải là tín ngưỡng Tứ Phủ.

Trước khi tín ngưỡng Tứ Phủ ra đời thì đây là một tín ngưỡng riêng biệt, là một dòng thờ riêng và tách bạch với các tín ngưỡng cùng thời. Như vậy có thể coi tục thờ Tứ Phủ bắt nguồn từ tục thờ Sơn Trang.

Tại sao Cung Sơn Trang lại được phối thờ trong các đền phủ theo tín ngưỡng Tứ Phủ ?

Việc phối thờ Sơn Trang trong cùng đền; phủ của tục thờ Tứ Phủ mang dấu ấn đậm nét tinh thần đoàn kết dân tộc giữa người Kinh đa số và các dân tộc thiểu số từ thời xa xưa. Điều đó muốn nói rằng đất nước Việt Nam là của chung mọi dân tộc Việt Nam và các dân tộc Việt đều thờ chung các vị Thánh. Sau khi giúp vua Lê Thắng trận và được sắc phong.

Chúa Sơn Trang là ai ?

Ngự tại Cung Sơn Trang (hay Tòa Sơn Trang) là Tam Tòa Sơn Trang. Tam Tòa Sơn Trang bao gồm:

+ Sơn Trang Đệ Nhất: Thanh Sơn Đại Vương Bạch Anh Quản Trưởng Sơn Lâm Công chúa Lê Mại Đại Vương.

+ Sơn trang Đệ Nhị: Diệu Tín Thiền Sư La Bình Công chúa.

+ Sơn Trang Đệ Tam: Sơn Trang đệ tam Diệu Nghĩa thiền sư Quế Hoa công chúa.

Nguồn khác thì cho rằng các chúa Sơn Trang chính là các Chúa Mường. Chúa Mường được thờ từ rất lâu đời . Từ thời vua Hùng đã có hình ảnh Chúa Mường; nhân dân ta tôn xưng Chúa Mường là chúa Sơn Trang . Trong sách cũng có câu hiệu viết Chúa Mường Sắc Tướng Đại Vương Bạch Anh Quản Trưởng Sơn Lâm Công Chúa; 3 vị tối linh quyền hành 1 cõi.

Lịch sử Chúa Sơn Trang hay lịch sử các Chúa Mường

Lịch sử của tam Vị chúa Mường như sau:

1. Chúa đệ Nhất

Thành Sơn Đại Vương Bạch Anh Quan Trưởng Sơn Lâm Công Chúa: Chúa Bà Thanh Sơn được thờ ở Tam Đảo một trong những địa linh của đất nước . Chúa xuất hiện ở thời Vua Hùng …Truyện kể rằng Kinh Đô Bạch Hạc bị giặc vây hãm vào thế khốn cùng bỗng đâu xuất hiện 1 người con gái từ trên núi Tam Đảo cùng 3 nghìn quân Mường kéo xuống giải vây cho Kinh Đô Giặc tan người con gái ấy cùng quân lui về núi Tam Đảo .

– Triều Đình nhân dân nhớ ơn lập miếu thờ ở chân núi Tam Đảo ; đền thờ ở Tam Đảo trải qua các đời kể cả thời bắc thuộc . Đền là 1 trong những Long mạch thần khí của đất nước . Đến đời Trần cho sửa sang lại đền phong Sắc Đại Vương . Hiệu viết Chúa Mường Bạch Anh Quản Trưởng Sơn Lâm Công Chúa . Đến đời hậu Lê phong Lê Mại Đại Vương .

2. Chúa đệ nhị

Bạch Hạc Xuân Nương công chúa. Bà Xuân Nương là tướng của Hai Bà Trưng là người Mường khởi nghĩa vùng Bạch Hạc .

3. Chúa đệ tam

Chúa có tên huý là Đinh Thị Vân chính là Thác Bờ Công Chúa hay Miếng công chúa . Chúa có công nuôi dưỡng vua Lê Thái Tổ và nghĩa quân. Chúa thác hoá ở thác Bờ ngày nay. Vua phong Chế Thắng Hoà Diệu Đại Vương làm chúa đất Hoà Bình; Sơn La; Lai Châu; Điện Biên Anh Linh lừng lẫy khắp chốn sơn trang. Ngài là chúa Bản Cảnh đất Hoà Bình nói riêng và là chúa động Mường nói chung.

Như vậy; các nguồn cho rằng tên của Chúa Mường Đệ Nhị và Chúa Mường Đệ Tam có sự khác nhau. Đó cũng là chuyện thường tình vì hiên nay các thánh tích chỉ chủ yếu là tương truyền. Nhưng sự thống nhất của hai tác giả này là Động Sơn Trang là thờ Tam Vị Chúa Mường.

– Chầu Bà Đệ Nhị là đại diện của Mẫu Thượng Ngàn cai quản tam thập lục động; thập nhị tiên nàng; bát bộ sơn trang. Trong tòa Sơn trang chia ra làm 12 chốn Mán; 12 chốn Mường; 12 chốn man di Thổ tộc cho nên mới gọi là tam thập lục động sơn lâm sơn trang; và 82 cửa rừng; 72 cửa biển; bát bộ sơn trang (8 tướng trai); thập nhị bộ tiên nàng (12 tướng gái).

Bát Bộ Sơn Trang là ai ?

– Theo tương truyền Mẫu Thượng Ngàn lấy ông họ Đỗ ở Đồng Đăng; hạ sinh được ông Đỗ Đống; Ông Đỗ Đống lấy bà Nguyễn Thị Tươi sinh ra 8 tướng phù giúp An Dương Vương; sau này hiển linh phù giúp Hai Bà Trưng và các đời Lý; Trần; Lê. Nhân dân ta gọi là 8 tướng sơn trang; Cai quản Các Lũng; Các Nương Núi Rừng; gồm: Đỗ Trinh; Đỗ Triệu; Đỗ Hiệu; Đỗ Trung; Đỗ Bích; Đỗ Trương; Đỗ Cường; Đỗ Dũng.

12 cô Sơn Trang là ai?

Thập nhị cô Sơn Trang là 12 thánh cô đi theo hầu Mẫu Thượng Ngàn. Các cô không thuộc Tứ Phủ Thánh Cô nhưng đôi khi các cô vẫn ngự đồng. 12 Cô Sơn Trang này là: Cô Cả Núi Dùm; Cô Đôi Bắc Lệ; Cô Bơ Thượng Ngàn; Cô Tư Ỷ La; Cô Năm Đồng Tiền; Cô Sáu Đồi Ngang; Cô Tám Thượng Ngàn; Cô Chín thượng ngàn; Cô Mười Suối Ngang; Cô Mười Một Đồng Nhân; Cô Mười Hai Thượng Ngàn. (theo ý kiến của Mười hai cô sơn trang )

Những ý kiến tham khảo khác về Chúa Sơn Trang:

– Có tài liệu cho rằng Cô Đôi Thượng Ngàn là Bà Chúa Sơn Trang.

– Người viết cho rằng điều này chưa thưc sự có thuyết phục lắm.

– Có tài liệu cho rằng Chúa Sơn trang được coi là Mẫu Đệ Tứ Nhạc Tiên được phủ diện hầu sau Tam Tòa Thánh Mẫu. Việc coi Chúa Sơn Trang như Mẫu thứ tư sau Tam Tòa Thánh Mẫu thể hiện tinh thần đoàn kết dân tộc giữa các dân tộc Việt Nam và cũng thể hiện một điều Dân tộc Việt nam đều thờ chung các vị thánh; với quan niệm này có cơ sở hơn là coi Chúa Sơn Trang là Cô Đôi Thượng Ngàn. Lưu ý khái niệm Mẫu Địa Tứ Nhạc Tiên khác với Mẫu Đệ Tứ (Mẫu Địa) trong Tứ Phủ Thánh Mẫu.

– Nhưng có nhiều ý kiến cho rằng Chúa Sơn Trang cũng là hiện thân của Mẫu Đệ Nhị Thượng Ngàn. Hay nói cách khác Mẫu Thượng Ngàn ngự tại Động Sơn Trang thì được gọi là Chúa Sơn Trang. Nếu hiểu theo cách này thì Chúa Sơn Trang chỉ là hiện thân của Mẫu Thượng Ngàn.

– Như vậy; động Sơn Trang thờ ai còn là một điều còn phải tranh cãi. Tuy vậy, động Sơn Trang hiện là một phần không tách rời trong tục thờ của Tứ Phủ.

Cách chuẩn bị lễ vật (mâm cúng) cúng ban Sơn Trang

Khi đến dâng hương ở các đền chùa nên sắm các lễ chay như hương, hoa tươi, quả chín, oản, xôi, chè… Không đặt lễ mặn ở khu vực Phật điện tức là chính điện, tức là nơi thờ tự chính của ngôi chùa. Trên hương án của chính điện chỉ được dâng đặt lễ chay, tịnh. Việc sắm sửa lễ mặn như cỗ tam sinh (trâu, dê, lợn), thịt gà, giò, chả… chỉ có thể được chấp nhận nếu như trong khu vực chùa có thờ tự các vị Đức Ông, Thánh, Mẫu và chỉ dâng đặt tại ban thờ hay điện thờ mà thôi. Cỗ mặn sơn trang gồm những đồ đặc sản Việt Nam: cua, ốc, lươn, ớt, chanh quả…Nếu có gạo nếp cẩm nấu xôi chè thì cũng thuộc vào lễ này. Theo lệ thường, khi sắm lễ mặn sơn trang, người ta thường sắm theo con số 15:

+ 15 con ốc, cua,

+ 15 quả ớt, chanh hoặc có thể chỉ cần 1 quả nhưng được khía ra làm 15 phần…

Con số 15 này tương ứng với 15 vị được thờ tại ban sơn trang (1 vị chúa, 2 vị hầu cận, 12 vị cô sơn trang)

Văn khấn ban Sơn Trang

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

Con kính lạy Đức chúa Thương Ngàn đỉnh thương cao sơn triều mường Sơn tinh công chúa Lê Mại Đại Vương ngọc điện hạ.

Con kính lạy Đức Thượng Ngàn chúa tể Mị Nương Quế Hoa công chúa tối tú tối linh, cai quản ba mươi sáu cửa rừng mười hai cửa bể.

Con kính lạy chư Tiên, chư Thánh chư Thần, Bát bộ Sơn trang, thập nhị Tiên Nàng, Thánh cô Thánh cậu, Ngũ hổ Bạch xà Đại tướng.

Hương tử con là……………………. Ngụ tại……………………….. Nhân tiết……………

Chúng con thân đến phủ chúa trên ngàn, đốt nén tâm hương kính dâng lễ vật, một dạ chí thành, chắp tay khấn nguyện.

Cúi xin lượng cả bao dung, thể đức hiếu sinh, phù hộ độ tri cho chúng con cùng cả gia quyến chín tháng đông, ba tháng hè được sức khỏe dồi dào, phúc thọ khang ninh, lộc tài vượng tiến, công việc hanh thông, vạn sự tốt lành.

Chúng con lễ bạc tâm thành, cúi xin chứng giám, phù hộ độ trì.

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật!

Nam mô a di Đà Phật! 
#sontrang  

Người đã thích
Đang tải danh sách...