Đông Hoa Đế Quân, hiệu là Nguyên Dương Phủ Phù Tang Đại Đế, chủ Dương Hòa Chi Khí, lý vu Đông phương, còn hiệu Vương Công Yên. Ngài cư tại Đông Hoa Phương Chư Cung, còn có tên Chư Cung Đồng Sơ Phủ, Đạo giáo tôn là “Phụ Nguyên Lập Cực Thiên Tôn”, “Truyền Đan Độ Thế Thiên Tôn”, “Đông Vương Mộc Công Thiên Tôn”.
Khi nay, nhằm mồng 6 tháng hai Nông lịch, đạo chúng xưng niệm bảo cáo, kì nguyện Tổ sư gia phu hựu, bảo hộ tinh tấn trong đời tu học: “Chí tâm quy mệnh lễ; Tử phủ động thiên, thanh dương hóa khí. Chưởng ác chư tiên chi tịch, khai xiển pháp môn chi thủy. Soạn trứ hoàng đình dữ đạo đức kinh, tương vi biểu lí; đề hành lãng uyển tá thần bảo quân, bí dĩ duy trì. Thanh vân kết cái, tử khí liên thành. Đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ. Thanh Dương khởi phái, Tử Phủ Đông Hoa đế quân, Phụ Nguyên Lập Cực thiên tôn”.
Thiên Địa tạo sinh muôn loài. Thuở hồng mông vừa phân, Dương khí thăng lên mà kết thành Trời, Âm khí vốn trọc hạ trầm xuống dưới mà kết thành Đất. Nói Trời Đất tạo sinh muôn loài cũng chính là ám chỉ Âm Dương chất phối mà nên vạn vật. Triết lý Âm Dương đi vào tôn giáo, hiện xuất nên hai vị tôn thần. Dương khí hóa sinh Đông Vương Công, Âm khí hóa sinh Tây Vương Mẫu. Hai vị chưởng quản nhị khí mà dưỡng dục thiên địa, đào quân vạn vật. Phàm là thiên thượng, thiên hạ, tam giới thập phương, nam tử đắc đạo đều do Đông Vương Công chủ quản.
Trong Đạo giáo, Đông Hoa Đế Quân là hóa thân của Đông Vương Công, cùng Tây Vương Mẫu nắm giữ tiên tịch của những kẻ nam nữ tu đạo. Theo tích truyền, phàm nam tử thành tiên, đầu tiên phải đến bái Đông Vương Công. Kế đó, Đông Vương Công đưa đến bái Tây Vương Mẫu. Sau mới vào bái Ngọc Hoàng, Tam Thanh.
Trường hợp hóa thân của các vị tự nhiên cao chân trong Đạo giáo nhiều vô kể: Nguyên Thủy Thiên Tôn hóa thân thành Thái Ất Cứu Khổ Thiên Tôn, Tử Vi Đại Đế hóa thân thành Phong Đô Huyền Khanh Đại Đế,... Song, trường hợp chúng thánh hóa thân thành phàm nhân khá ít, truyền thống có Huỳnh Hoặc tinh hóa thân Vương Thiện (Vương Linh Quan); Đông Vương Công hóa thân Vương Huyền Phủ Tổ sư. Dù chúng thánh có hóa thân thành phàm nhân đi nữa, Đạo giáo tuyệt nhiên không gọi là đầu thai chuyển thế. Bởi lẽ Đạo giáo tin nhận rằng tự nhiên cao chân không vướng vào luân hồi mà xem đó là một sự biến đổi đầy mầu nhiệm.
Với trường hợp của Đông Hoa Đế Quân (Vương Huyền Phủ Tổ sư), chúng ta nên hiểu rõ: từ đời đời và muôn thuở, đã tồn tại nguyên thần của “Vương Huyền Phủ” (đặt trong ngoặc kép vì trước khi Tổ sinh ra, chưa có tên gọi này mà có thể là tên gọi khác qua nhiều kiếp). Tuy nhiên, trong muôn kiếp ấy, Đại Đạo nhận thấy nguyên thần này mang phẩm chất cao cả, trọn hảo và hoàn toàn xứng đáng. Đại Đạo tiên liệu được rằng ở kiếp Vương Huyền Phủ, Tổ sẽ đắc đạo. Vậy nên Ngài đã ưu ái mà gia ân, trích tiên khí vào phàm nhân đó. Ở đây chính là từ Đông Vương Công gia ân cho Vương Huyền Phủ Tổ sư. Tổ sư nhờ đó mà đảm đương chức vụ tuyển tiên thay cho Đông Vương Công. Thế mới nói, Vương Huyền Phủ - Đông Hoa Đế Quân chính là hóa thân của Đông Vương Công.
Đông Hoa Đế Quân được tôn xưng là Bắc Tông Đệ Nhất Tổ, Ngài là sơ tổ của Toàn Chân Đạo. “Kim liên chính tông ký” chép: “Đông Hoa Đế Quân, họ Vương, tự Huyền Phủ, đạo hiệu Đông Hoa Tử. Sinh hữu kỳ biểu, ấu một chân phong, Bạch Vân Thượng Chân kiến nhi ái chi, viết: “Thiên thượng trích tiên nhân dã”. Nãi dẫn nhập đạo…. Tại nhân gian sổ bách tuế, thù vô suy lão chi dung. Khai xiển huyền tông, phát huy diệu uẩn, âm công tế vật, huyền đức động thiên, cố thiên chân tứ hiệu Đông Hoa Đế Quân, hựu viết Tử Phủ Thiếu Dương Đế Quân. Thụ độ môn nhân Chính Dương Tử Chung Ly Vân Phòng, tự hoằng giáo pháp”. Khi Tổ hạ sinh, trời xuất dị tượng. Khi lớn lên, được Bạch Vân Thượng Chân ưu ái mà phán: “Quả là tiên trên trời xuống đây vậy!” ý ám chỉ là người thuần khiết vô ngần. Tại thế gian huyền công Tổ thấu trời, thường hành âm công tế vật, sau thăng chân được tứ ban hiệu Đông Hoa Đế Quân.
Bành Trí Trung đời nhà Nguyên biên tác phẩm“Minh hạc dư âm” quyển thứ ba, có chép lại lời của Vương Trùng Dương tổ sư - “Mãn đình phương” đề cập pháp mạch Toàn Chân rằng: “Nhữ phụng Toàn Chân, kế phân ngũ tổ, lược tương tông phái xưng dương. Lão Quân kim khẩu, thân phó dữ Tây Vương Thánh Mẫu, tứ Đông Hoa giáo chủ. Đông Hoa giáng Chung Ly thừa đương, truyền huyền lý, phú xuân Lưu Tướng, Lữ Tổ ngộ hoàng lương”. Pháp mạch Toàn Chân hiện hữu tự muôn thuở muôn đời, đến lúc Đông Hoa Tử Phủ Thiếu Dương Vương Huyền Phủ Tổ Sư thì hiển thế khai khởi. Phàm đạo sĩ Toàn Chân, hành nghi khoa trai tiếu, đều cậy nhờ ân đức nguồn mạch này mà thành vậy!
Theo Long Môn
Bài Viết Gợi Ý Cùng Chuyên Mục
Lư Sơn Lục tiên sinh, vốn là con cháu của danh gia vọng tộc họ Lục đất Ngô Hưng, tên húy là Tu Tĩnh. Đạo giáng bẩm thụ nguyên khí, ngài sinh ra đã mang cốt cách khác biệt với thói tục, nét mặt luôn vui vẻ hòa ái, ân đức rạng rỡ ôn hòa. Ngài dùng sự sáng suốt để soi rọi điều tỏ tường, lấy tâm thế hư không để thấu suốt cõi u huyền. Thuở thiếu thời ngài tôn sùng Nho gia, nhưng từ các sách cổ Tam Phần Ngũ Sách cho đến sấm vĩ, không có thứ gì là ngài không bao quát tinh thông.
Ngài tâm niệm rằng việc phụ trợ tạo hóa từ thuở tiên thiên, hỗn dung tinh khí làm một để cùng sánh bước với đấng Chân Tể, toàn bộ đều được ghi chép rành rẽ trong những bộ kinh chữ ngọc thẻ vàng. Bởi thế, ngài bèn thu mình khỏi chốn trần hoàn, âm thầm tìm tòi chốn non sâu cùng cốc. Hành tung của ngài trải dài từ núi Hùng Tương cho đến non Cửu Nghi, La Phù, phía tây tới tận Vu Giáp, Nga Mi; ngài phiêu diêu tự tại như đám mây in bóng cùng gió thông, rạng rỡ nơi non cao và soi bóng chốn nước thẳm. Đến lúc công phu tu luyện viên mãn gõ cửa cõi huyền, ngài cảm động đến thần linh nên được truyền thụ thần linh quyết, tự nhiên đắc đạo, thong dong giao du cùng chốn tiên chân vậy.
Vào cuối niên hiệu Nguyên Gia thời Tống, nhân việc ngài vào kinh thành mua thuốc. Tống Văn Đế vốn sẵn lòng khâm phục đạo phong của ngài, bèn sai chế tạo cỗ xe báu Đình Hà, cử Tả bộc xạ Từ Trạm mang thánh chỉ đến lưu giữ ngài lại. Tiên sinh kiên quyết chối từ chẳng màng đoái hoài, rũ áo cất bước rời đi. Về sau Tống Văn Đế gặp phải kiếp nạn Thái Sơ (Thái tử Lưu Thiệu phản loạn), hết thảy mọi người đều cho việc ngài rời đi trước đó là khả năng tiên tri kỳ dị. Lúc bấy giờ tiên sinh ngược dòng về Giang Nam, đặc biệt say mê cảnh sắc tuyệt thắng của non Khuông Phụ (tức Lư Sơn).
Đến năm Đại Minh thứ năm đời Hiếu Vũ Đế, ngài bèn cất dựng tinh xá dưới mỏm Bạch Vân phong. Sang năm Thái Thủy thứ ba, Minh Đế lại hạ chiếu mệnh, sai Thứ sử Vương Cảnh Văn khẩn khoản nài nỉ, ngài vạn bất đắc dĩ mới chịu nhận lời. Đến ngày ngài lên xe xuất hành, lại có gấu hổ vượn quạ khóc lóc bi ai bâu kín khắp dọc đường, mãi đến khi ngài ra khỏi núi mới thôi.
Tiên sinh khi đến kinh khuyết, nhà vua bèn cho lập Sùng Hư Quán và Thông Tiên Đài để cung nghênh ngài. Từ đó vua thuận theo đạo phong mà thỉnh vấn, những lời vi diệu làm thấm nhuần tưới mát cõi lòng đế vương. Bậc sĩ phu am tường chân lý chốn triều dã, đua nhau quy tụ về như nước dồn xuống khe sâu, như gió ứng theo tiếng hổ gầm, có ai mà cản trở cho nổi. Tiên sinh vạch sương mù mở lối thấy mặt trời, đãi cát tìm vàng, chỉ dẫn phương hướng để độ hóa họ. Từ bậc trung nhân trở lên, tất cả đều tự nhận được phần ích lợi viên mãn cho mình, những bậc như Tư đồ Viên Tập cũng nằm trong số đó. Từ khi Sùng Hư Quán được lập nên, bao nhiêu kinh quyết bảo vật của các dòng họ toàn bộ đều quy tụ về đó. Nhờ vậy mà chấn chỉnh biến đổi hẳn được những thói tục suy đồi, cả triều đình lẫn cõi dân dã đều tôn ngài làm bậc tông sư.
Năm sau, nhà vua ngọa bệnh, bèn hạ chiếu thỉnh tiên sinh tu thiết đạo trai Từ Thán (nguyên tự là Đồ Thán, một nghi lễ sám hối Đạo giáo). Đêm ấy, giữa đàn tràng có đám mây lành bồng bềnh cuồn cuộn giáng xuống, hôm sau bệnh của vua thuyên giảm bình phục. Đến lúc Quế Dương Vương dấy binh làm loạn, xương người chết phơi trắng đầy đồng nội, tiên sinh bèn sắm sửa quan tài khâm liệm mà chôn cất tế độ cho họ. Chút âm đức vận hành âm thầm của ngài, đại loại thường có những việc như vậy.
Tiên sinh nhiều lần dâng biểu xin về núi, vua nhất quyết không ưng chuẩn. Kéo dài đến tháng Giêng mùa xuân năm Nguyên Huy thứ năm đời Thương Ngô Vương, ngài chợt bảo các môn đồ rằng: "Ta vì vướng bận ân mệnh mà phải làm trái với chí nguyện thuở xưa, nay ta sắp quay về ngọn núi cũ, các con hãy sửa soạn hành trang xe cộ." Các đệ tử hết thảy đều thấy làm lạ. Đến ngày mồng hai tháng Ba, ngài bỗng nhiên ngả mình tịch diệt hóa thân, da dẻ thi thể vẫn rạng rỡ ánh lên, hương thơm kỳ dị sực nức. Ba ngày sau, vô số đồ đệ ở Lư Sơn cùng trông thấy tiên sinh giương cờ nghê bồng bềnh, quay về chốn ở ẩn năm xưa, rồi bỗng chốc lại biến mất chẳng biết tung tích ở đâu, tất cả cùng nhau kinh ngạc dị thường.
Ngài để lại di mệnh căn dặn dùng túi vải liệm xác, rồi ném xuống hang sâu vực thẳm nơi ngài nằm xuống. Môn đồ không nỡ làm thế, bèn phụng rước thi hài về Lư Sơn. Lúc bấy giờ ngài thọ bảy mươi hai tuổi. Đó chính là cảnh giới luyện hình nơi đất u minh, thăng cảnh lên sao Thái Vi vậy. Nhà vua hạ chiếu ban thụy hiệu là Giản Tịch Tiên Sinh, mới lấy nơi ở cũ của ngài dựng lập thành Giản Tịch Quán, cốt để tôn vinh bậc đắc Đạo.
Trước đó, các bộ kinh thuộc bộ Động Chân bị lẫn lộn thật giả, tiên sinh bèn san định và đính chính lại, từ đó ranh giới đục trong như sông Kinh sông Vị mới được phân định rõ ràng. Cho nên mọi nghi phạm trai giới của ngài đều trở thành khuôn phép chuẩn mực cho đời sau. Phàm những trứ tác chép lục và luận nghị của ngài, tính ra có hơn trăm thiên, đồng loạt được lưu hành rộng rãi ở thế gian. Môn đồ đắc đạo có Tôn Du Nhạc, Lý Quả Chi là nổi danh đứng hàng đầu.
Về sau Khổng Đức Chương gửi thư cho Quả Chi, luận bàn về tiên sinh rằng: "Đạo của tiên sinh đứng đầu chốn Trung đô, ơn giáo hóa lưu truyền khắp các cõi phương Đông. Bậc đế vương tất thảy đều bẩm thụ khuôn phép của ngài, người linh dị đều tôn sùng diệu pháp của ngài. Nay những lời vi ngôn đã vắng bặt, đại pháp sắp bề tàn tạ. Pháp sư mang tư chất định thần do trời ban bẩm, đứng ở phẩm bậc đăng đường nhập thất, có cái đẹp của sự học và giác ngộ, là chốn quy tụ của mọi môn đồ. Thiết nghĩ ngài nên chỉnh đốn lại những di tích cũ, chấn chỉnh giềng mối kỷ cương, làm rạng rỡ thêm chút ơn giáo hóa còn sót lại của vị tiên sư, gom góp di phong của diệu đạo, nhờ đó có thể dẫn dắt thói tục thời mạt, soi sáng mở đường cho kẻ hậu học về sau vậy."
Thuở ban đầu, khi tiên sinh vâng lệnh chiếu chỉ vào triều, ngài từng kéo lê một cái túi vải. Đến lúc ngài mất mà quay về, bỗng thấy có chiếc túi vải vắt vẻo trên cây nơi vách đá. Nay ở vùng khe Tây nơi ngài từng cư ngụ, có một ngọn núi tên là Bố Nang Nham (vách Túi Vải). Nơi đó có tảng đá lập đàn tiếu, cao sáu bảy thước, vuông vức hơn một trượng. Mặt đá hướng về cung Càn Hợi, cũng có tên gọi là đá Lễ Đẩu. Bên ngoài Thạch Môn có giếng luyện đan, có cây liền cành, thân to bằng một ôm, rễ cuộn chặt bám lấy nhau. Lại có chiếc khánh đá, âm thanh gõ lên thanh thúy vang xa. Lại có mầm thuốc trúc đắng, mọc rải rác khắp vùng thung lũng non sâu, tất cả đều là di tích ngài để lại.
Đến năm Thái Cực thứ nhất đời Đường (năm 712 thời Đường Duệ Tông), nhà vua hạ lệnh lập đàn tiếu tại Quán, bèn xuất hiện dị tượng rồng đen và bầy hạc bay đến. Vua giáng chiếu ngợi ca sùng kính, lại giao cho cơ quan sử quán biên soạn ghi chép.
Đến ngày mồng một tháng Bảy năm Tuyên Hòa thứ nhất đời Tống Huy Tông, vua phong ngài làm Đan Nguyên Chân Nhân. Chiếu văn chép rằng: "Trẫm nghĩ những bậc sĩ phu thanh cao lánh đời thuở trước, tiếng tăm chẳng hề phai mờ mà tôn hiệu vẫn chưa xứng đáng, nay nghị bàn để truy phong làm cho rạng rỡ. Giản Tịch tiên sinh Lục Tu Tĩnh, đắc được tính chân tinh vi bên trong, san định lại kinh điển để lại khuôn mẫu, một thời siêu phàm thoát tục. Nay đền thờ nơi ẩn cư cũ tại núi Lư Sơn hãy còn, xét thực tế định danh, dùng lễ để ban hiệu Chân Nhân. Chẳng những dùng để ngợi ca dấu tích năm xưa, mà còn khiến cho những kẻ đời sau nghe thấy tiếng tăm, biết được Đạo ở nơi đâu mà thêm bề gắng gượng. Đáng đặc cách phong làm Đan Nguyên Chân Nhân."
Lục Tu Tĩnh thi giải vào niên hiệu Nguyên Huy thời nhà Tống, vậy mà cuốn Thích Thị Thông Giám lại chép rằng: "Vào năm Thiệu Thái thứ nhất đời Lương Kính Đế, nhóm đạo sĩ Lục Tu Tĩnh ban đầu bị Lương Vũ Đế ruồng bỏ, bèn chạy trốn sang đất Ngụy. Đến nay, đồ đệ của ngài khá đông. Mà Tề Đế lại thờ Phật, nhóm của Tĩnh sinh lòng ghen ghét, bèn đến cửa khuyết xin đấu phép (nguyên tác chép "xúc pháp" thay vì "đấu pháp") với Thích tử." Vả chăng, cứ lấy niên đại mà khảo xét, niên hiệu Nguyên Huy cách niên hiệu Thiệu Thái đến hơn sáu mươi năm, vậy những sự tích ghi chép trong sách ấy, há chẳng phải là quá sức hoang đường sai lầm hay sao?
Nguồn: Lịch thế chân tiên thể đạo thông giám (歷世真仙體道通鑑), quyển thứ 24.
Tương truyền một trong những đệ tử của Vương Trùng Dương là Đàm Xứ Đoan, khi còn ở tại người thường, có một lần uống rượu say ngã xuống mặt đất phủ đầy tuyết giữa cơn gió rét. Sau lần đó ông đi lại khó khăn, đến đâu thầy thuốc cũng nói rằng không có cách nào chữa trị. Cuối cùng, ông nghe nói Vương Trùng Dương Đạo Pháp cao thâm, nên mới đi tìm Vương Trùng Dương để bái kiến.
Chẳng ngờ Đàm Xứ Đoan khi đến nơi ở của Vương Trùng Dương thì gặp lúc bế môn, từ chối không cho khách vào nhà. Trước tình huống này, Đàm Xứ Đoan không hề quay đầu trở về, mà đứng ngoài cửa am một cách hết sức cung kính, mãi vẫn không đi, lấy đó để bày tỏ thành ý và thành tâm cung kính của mình. Hôm ấy đang là mùa Đông, trời dần dần tối, lại giữa lúc có trận tuyết lớn, Đàm Xứ Đoan vẫn cung kính y nguyên đứng đợi ngoài cửa. Ông đứng trong cơn bão tuyết như vậy cho tới tận giờ Tý (23 giờ đêm đến 1 giờ sáng); lúc ấy đột nhiên cuồng phong nổi lên mãnh liệt, cánh cửa am khép kín vậy mà bị gió đẩy mở toang.
Vương Trùng Dương lúc ấy đang ở trong am đợi thời cơ, khi thấy cửa am bị gió đẩy mở, biết cơ duyên của Đàm Xứ Đoan đã chín muồi rồi, mới ra đón đàm Xứ Đoan vào. Lúc ấy Đàm Xứ Đoan đã run lên cầm cập vì rét; Vương Trùng Dương bèn để ông ôm vào một bên chân mình. Khi ấy Đàm Xứ Đoan cảm thấy một luồng nhiệt đẩy vào cơ thể, một lúc sau mồ hôi đổ ra đầm đìa. Tiếp đó Vương Trùng Dương bảo Đàm Xứ Đoan hãy ngủ một giấc.
Sáng sớm hôm sau, Đàm Xứ Đoan sau khi tỉnh dậy đã hoàn toàn quên mất bệnh tật của mình, chỉ một lòng muốn mau chóng đến bái tạ Vương Trùng Dương. Vừa bước mấy bước, ông mới phát hiện căn bệnh vốn quấy rầy và gây đau nhức cho mình nay đã hoàn toàn tiêu mất rồi. Ông lập tức đến trước mặt Vương Trùng Dương, phủ phục dưới đất khấu đầu lạy tạ, nguyện bái ông làm sư phụ. Vương Trùng Dương vui vẻ tiếp nhận ông, ban cho ông đạo hiệu “Trường Chân Tử”. Từ đó Đàm Xứ Đoan tinh tấn tu luyện, cuối cùng tu thành, được người đời gọi là một trong “Toàn Chân Thất Tử”.
Đọc xong đoạn cố sự này, điều khiến tôi thán phục không phải là cách Vương Trùng Dương trị bệnh cho Đàm Xứ Đoan, trong lịch sử rất nhiều Giác Giả độ nhân đều đã từng trị bệnh cho con người rồi; điều khiến tôi thực sự thán phục chính là sự thành tâm của Đàm Xứ Đoan khi bái kiến Vương Trùng Dương. Loại thành tâm này đã sớm siêu xuất khỏi thường nhân, là thành tâm đối với sư phụ; cuối cùng ông có thể tu thành cũng chẳng có gì là lạ. Tôi nghĩ rằng: Người tu luyện trong lịch sử mà còn làm được như vậy, thì người tu luyện chúng ta ngày hôm nay, nhất định phải lấy thái độ kính Sư kính Pháp cung kính nhất, kiền thành nhất, khiêm tốn nhất, toàn tâm toàn ý nhất để đối đãi với Sư phụ và Đại Pháp.
[ChanhKien.org]
Từ Hàng chân nhân cũng gọi Từ Hàng Đạo Nhân, Từ Hàng Tiên Cô, Từ Hàng Phổ Độ Thiên Tôn, Từ Hàng Phổ Độ Viên Thông Tự Tại Thiên Tôn,...Đây vốn dĩ là một vị thần riêng biệt trong hệ thống " tín ngưỡng dân gian Trung Quốc" , xuất hiện trong các bản Lịch Đại Thần Tiên Thông Giám, Linh Bảo Kinh,... Tự sau thời Đường, giới sĩ đại phu đề xuất chủ trương "tam giáo hợp nhất", liền lấy Từ Hàng Đạo nhân đồng danh, đông tướng với quan âm bồ tát của Phật giáo.
- Đối với Đạo giáo, Từ Hàng xuất hiện sớm nhất trong bản Linh Bảo Kinh (Khoảng chừng 397-402 Tây lịch), dựa vào bản Linh Bảo Kinh có trong Văn Tuyển Khảo Dị, tập Linh Bảo Kinh cũa Lý Thiện chú, nhận thấy:
"Thiền Lê thế giới có vị nữ chân con vua, tự Diệu Âm, lên bốn vẫn chẳng biết nói. Vua thấy lạ, nên đem bỏ tại núi A Không tại phía Nam xứ Phù Tang. Không có thức ăn, nên thường ngày nuốt không khí mà sống, uống ánh trăng mà tự no bụng. Bỗng dưng gặp đặng thần nhân dưới rừng tùng bách tại Đan Lăng.Thần lấy tay phải viết lên đá, đề rằng "Tuy không thể nói, nhưng có thể nhớ đặng văn vậy'. Liền sai linh đồng ở Châu Cung xuống làm thầy dạy Diệu Âm văn chương và lời nói, liền nói đặng ngay. Diệu Âm rời núi, về lại nước cũ, gặp lúc hạn hán, dưới đất nổi lửa, người người khốn khổ, chết hơn một nửa. Đào đất tìm nước mà trăm trượng chẳng thấy giọt nào. Vua quan vô cách. Nữ vì dân mà ngửa mặt lên giời thét to, nước liền tuôn xuống đến mười trượng, sau đó liền ẩn hình đi mất."
- Thái Thượng Động Huyền Linh Bảo Từ Hàng Nguyên Quân Bản Hành Diệu Kinh viết:
"Ở Thiền Lê thế giới, nước Diệu Trang, vua tên Diệu Trang, có con gái, húy Âm, vốn ở Thông Minh điện trước xe ngọc của Thánh Quân, phụng lệnh hạ sinh xuống nước này. Sinh thời không biết nói, yên lặng qua ngày. Mãi đến năm lên bốn, vua nổi giận, bèn bắt bỏ tại núi A Không phía Nam xứ Phù Tang. Không có thức ăn, bèn lấy ánh trăng mà nuốt. Ngày kia gặp Thần nhơn, bèn viết lên đá rằng 'ta tuy không thể nói, nhưng có thể nhớ đặng văn vậy'. Diệu Âm nhìn vào chữ, linh quang đốn ngộ, từ từ cúi đầu. Thần thấy vậy, chỉ lên thiên không, sai linh đồng trên Châu Cung xuống dạy cho cách nói và viết. Khi Âm đã đắc đặng chân truyền, có thể mỡ miệng mà nói, khấu đầu lạy trăm lạy rồi liền muốn rời khỏi A Không sơn. Thần không nói, Âm biết ý, liền đến bên cạnh Thần. Thần nói rằng, thời gian sau này của ngươi không nhàn hạ. Do xưa thụ lệnh Ngọc Đế mà giáng hạ phu trần, chuyển hoán nữ thân. Liền đó mà phương phương xiển giáo, xứ xứ độ linh, Nay ta dạy cho ngươi mật pháp, tuy không phải là tối cao tối mật nhưng có thể tế thế độ nhân. Liền đưa cho một bình báu bằng ngọc, dạy rằng, hễ bên trong hiện ra một cành liễu rũ tức là thế gian đương có khổ nạn, cần phải lắng nghe âm thanh kêu cứu mà tới nơi cứu độ, cho đến khi nào bình dương liễu này không hiện ra nữa, tức là đã hết khổ ở thế gian, ngươi có thể trở về. Âm nhận lấy pháp, lạy tạ mà lui. Khi đó, tại nước Diệu Trang, hỏa ách xảy ra. Trời giáng ánh đỏ, đất nổi lửa tai, nhân dân điêu đứng, chết đến quá nửa. Đào đất tìm nước mà trăm trượng chẵng thấy gì, đập núi tìm nước mà ngàn dặm khô khan. Trang Vương sợ hãi ngửa lên giời kêu cứu. Khi đó, giời mở đàng mây, hiện ra bóng một nguời nữ cầm bình báu rảy cành dương, đột nhiên phát ra hào quan vạn trượng, thăng lên rồi hạ xuống. Đi đến đầu ngọn lửa, điểm ba lần, tức thì giời giáng hồng thủy làm dập tắt lửa. Đất giời mát mẻ, hỏa khí mất sạch, ngàn dặm đều được cứu độ, vạn linh được giải thoát. Trang Vương vui mừng hướng lên trời lễ bái, thời mới phát hiện ra là Âm, nhứt thời liền cảm động, khấu đầu không ngừng. Âm thấy vậy, cũng liền ẩn hình mà biến mất."
- Lịch Đại Thần Tiên Thông Giám chép:
"Tại núi Phổ Đà Lạc Già, nơi Triều Âm Động có một nữ chân, tương truyền là người tu đạo từ đời Thương đến nay, đã đắc thần thông tam muội, phát nguyện muốn độ khắp nam nữ chúng sanh. Thường dùng đơn dược cùng với nước Cam lộ mà cứu người, người Nam Hải cũng gọi đó là Từ Hàng Đại Sĩ.
- Đối với Phong Thần Diễn Nghĩa, lại phóng tác từ truyền thuyết và tưởng tượng mà bịa ra rằng Từ Hàng Đạo Nhân là một trong mười hai môn đồ của Nguyên Thủy Thiên Tôn, tu tại Phổ Đà Sơn, động phủ Lạc Già Động. Sau này Từ Hàng quy y Tây Phương giáo (Tức Phật giáo) mà hóa thân thành Quán Âm Bồ Tát. Xưa nay thế gian vẫn đánh đồng Quán Âm Bồ Tát và Từ Hàng Đạo Nhơn là một thể.
Trang vương dục tú, thụ đế mệnh năng đản sinh
Giáo xiển Nam Dương, phụng sắc chỉ năng cứu kiếp
Tầm thanh cảm ứng, động niệm thùy từ
Thánh đức chiêu chương, huyền công mạc trắc
U hiển chiêu tô năng bàng ơn tế độ
Phẩm vật hàm lại năng hạ huệ sinh thành
Ngoại đạo ngưỡng y, tà ma quy chính
Đại Bi Đại Nguyện
Đại Thánh Đại Từ
Tầm Thanh Cứu Khổ Cứu Nạn, tùy tâm tiêu ách tiêu tai
Bích Lạc ĐộngThiên đế chủ, Viên Thông Tự Tại Thiên Tôn.
Phổ Đà Sơn thượng, Nam Hải ngạn tiền
Thiên biến vạn hóa, quảng tầm thanh cứu khổ chi công
Tam muội Lục thông, chứng thanh tịnh tự nhiên chi quả
Thanh liên trạm lộ, lục liễu ngưng tường
Diệp khánh truyền tôn, lân chỉ cảm bạch y chi bào tống
Tể nhân lợi vật, hồng ơn như tử điện chi quang mang
Ngũ khổ siêu sinh, thiên sinh giác ngộ
Đại Bi Đại Nguyện
Đại Thánh Đại Từ
Quán Âm Đại Sĩ, Ngũ Lôi pháp chủ
Trúc lạc hoàng ca Thiên Đế, Viên Thông Tự Tại Thiên Tôn.
Trong văn hóa Trung Quốc, Thái Thượng Lão Quân là một hình tượng vô cùng quan trọng và linh thiêng trong Đạo giáo. Ông được coi là một trong Tam Thanh, vị thần tiên tối cao của Thiên đình. Hình ảnh và tượng trưng của Thái Thượng Lão Quân không chỉ xuất hiện trong văn học và tôn giáo mà còn lan tỏa qua nhiều lĩnh vực nghệ thuật như phim truyền hình và truyện tranh. Với sức mạnh siêu nhiên và sự linh thiêng, ông đóng vai trò quan trọng trong việc hướng dẫn và bảo vệ con người, cũng như trong việc duy trì trật tự và hòa bình trong vũ trụ. Điều này khiến cho việc tìm hiểu về Thái Thượng Lão Quân trở thành một chủ đề hấp dẫn và đầy ý nghĩa trong nghiên cứu văn hóa và tôn giáo của Trung Quốc.
Trong Đạo giáo Trung Quốc, Thái Thượng Lão Quân (太上老君), hay còn được gọi là Đạo Đức Thiên Tôn là một tượng trưng cho vị thần tiên tối cao, là một trong Tam Thanh (三清), ba vị thần linh cao cấp nhất trong đạo lý của Đạo giáo. Ông được coi là người sáng lập và giữ vị trí quan trọng trong hệ thống thần thoại và tôn giáo của Trung Quốc.
Đạo Đức Thiên Tôn thường được đồng nhất với Lão Tử, một nhân vật lịch sử được cho là sáng lập ra triết lý của Đạo giáo. Tuy nhiên, trong triết lý Đạo giáo, Lão Tử chỉ được coi là một hoá thân giáng trần của Thái Thượng Lão Quân, một dạng hiện thân của ý niệm trừu tượng và tinh tế hơn.
Theo quan điểm Đạo giáo, Thái Thượng Lão Quân không chỉ là một thần linh tối cao mà còn là biểu tượng của sự hoàn hảo và sự hoà hợp với tự nhiên. Ông được tưởng tượng như một người đàn ông cao tuổi, có râu tóc dài và mang trên mình bộ áo dài màu xanh. Ông thường được hình dung đứng trên một con hổ hoặc trên một cây đào, là biểu tượng của sức mạnh và sự trường thọ.
Trong các nghi lễ và tín ngưỡng, người ta thường cầu nguyện và thờ phụng Đạo Đức Thiên Tôn để mong nhận được sự bảo hộ và sự định hướng trong cuộc sống. Ông được coi là người cai quản vận mệnh của con người và là nguồn cảm hứng cho sự phát triển tinh thần và trí tuệ.
Như vậy, Thái Thượng Lão Quân không chỉ là một vị thần linh quan trọng trong Đạo giáo Trung Quốc mà còn là biểu tượng của sự trí tuệ và sự sâu sắc của triết lý Đạo giáo. Ông đại diện cho sự hoàn hảo và sự hoà hợp với tự nhiên, là nguồn cảm hứng và niềm tin cho người theo đạo.
Trong thần thoại của Đạo giáo, Thái Thượng Lão Quân được coi là một trong những đấng linh thiêng nhất, vượt trội hơn cả trời đất và thậm chí là nguyên khí ban đầu của vũ trụ. Ông được xem như biểu tượng của sự trí tuệ và sức mạnh tối thượng, là nguồn cảm hứng và hướng dẫn cho người tu hành và tìm kiếm sự giải thoát tâm linh.Theo thần thoại, Thái Thượng Lão Quân đã giáng sinh vào thời đại của vị vua Chu, và trong hình hài này ông được biết đến với cái tên Lão Tử. Lão Tử đã sáng tác Đạo Đức Kinh, một tác phẩm triết lý nổi tiếng, được coi là một trong những bí quyết vĩ đại nhất của Đạo giáo. Ông được tôn là Giáo chủ và Đạo tổ của Đạo Giáo, và tượng trưng cho sự hiểu biết sâu sắc và lòng nhân ái.
Đạo Đức Thiên Tôn được cho là cư ngụ tại cung Đâu Suất, tầng trời thứ 33, nơi mà truyền thuyết mô tả như một điểm hẹn của sự thanh tịnh và trí tuệ tối cao. Trong cung Đâu Suất, có lò Bát quái, một nơi mà các loại tiên đơn thánh thủy được luyện chế để trường sinh và đạt được bất tử.
Trong Tam Thanh, hệ thống tín ngưỡng ba đấng tối cao của Đạo Giáo, Thái Thượng Lão Quân đảm nhận vị trí quan trọng nhất, ngồi trên ngai vị Thái Thanh. Ông được tôn là nguồn gốc của sự trí tuệ và sức mạnh vô biên của vũ trụ, và là một trong những nguyên tố cơ bản nhất trong việc hiểu biết về bản chất của thế giới.
Với vai trò của mình,Đạo Đức Thiên Tôn không chỉ là một vị thần linh, mà còn là một biểu tượng vô cùng quan trọng trong tâm linh và triết lý của Đạo Giáo. Ông đại diện cho sự thanh tịnh, trí tuệ và sức mạnh tối thượng của vũ trụ, và là nguồn cảm hứng không ngừng cho người tu hành theo Đạo Giáo.
Trong tạo hình truyền thống của Đạo Đức Thiên Tôn trong các điện thờ và bức tranh Đạo giáo, ông thường được miêu tả dưới hình tượng của một ông già với mái tóc và râu bạc phơ. Khuôn mặt của ông thường hiện lên sự trầm mặc và sâu sắc, thể hiện sự hiểu biết sâu rộng về bản chất của thế giới và vũ trụ.
Đạo Đức Thiên Tôn thường được tượng trưng bằng cách ông cầm trên tay một cây quạt ba tiêu, một biểu tượng mang tính biểu tượng trong Đạo giáo. Cây quạt ba tiêu thường được xem như một công cụ phổ biến của các thần linh, thể hiện sức mạnh và quyền năng của họ để thổi bay đi những điều xấu xa và mang lại sự thanh tịnh và an lạc cho nhân loại.
Ngoài ra, Đạo Đức Thiên Tôn cũng thường gắn với hình ảnh Bát quái, với tư cách là vị thần linh giám sát và điều khiển các yếu tố tự nhiên và siêu nhiên trong vũ trụ. Bát quái là một biểu tượng phổ biến trong văn hóa Trung Quốc, thể hiện sự cân bằng và sức mạnh của vũ trụ.
Trong các bức tranh và điện thờ, Thái Thượng Lão Quân thường ngồi bên trái của Nguyên Thủy Thiên Tôn, vị thần linh tối cao nhất của Đạo giáo, thể hiện sự tôn trọng và vị thế của ông trong thế giới tâm linh. Bên cạnh ông thường là Linh Bảo Thiên Tôn, một trong ba đấng tối cao khác của Tam Thanh, tạo nên một cảnh tượng thanh tịnh và trang nghiêm trong các tác phẩm nghệ thuật và nơi thờ cúng.
Pháp Bảo của Thái Thượng Lão Quân bao gồm một loạt các vật phẩm linh thiêng, biểu tượng cho sức mạnh và quyền năng của ông trong thế giới tâm linh. Dưới đây là một số trong những Pháp Bảo nổi bật của Thái Thượng Lão Quân:
- Quạt Ba Tiêu
- Dây Thừng Hoàng Kim
- Hồ Lô Tử Kim
- Ngọc Tịnh Bình
- Kim Cương Trát
- Thất Tinh Kiếm
- Lò Bát Quái
Hình tượng Thái Thượng Lão Quân không chỉ xuất hiện trong văn học mà còn trở nên phổ biến qua nhiều tác phẩm nghệ thuật khác nhau, từ phim ảnh đến truyện và phim truyền hình. Trong nhiều tác phẩm như “Phong thần diễn nghĩa” và “Tây du ký“, Thái Thượng Lão Quân được miêu tả như một vị thần tiên tối cao của Thiên đình, sở hữu nhiều bảo vật và có khả năng sử dụng phép thần thông mạnh mẽ.
Trong bản phim truyền hình Tây du ký năm 1986, Thái Thượng Lão Quân được hình dung là một vị thần linh với sức mạnh vượt trội. Ông sở hữu nhiều bảo vật quý giá như quạt ba tiêu, dây thừng hoàng kim, hồ lô tử kim và nhiều pháp bảo khác. Tuy nhiên, như mọi nhân vật huyền thoại, Thái Thượng Lão Quân cũng có những phút sơ ý và sai lầm. Trong bộ phim, ông đã để cho Tôn Ngộ Không ăn trộm hết linh đơn và đẩy đổ lò bát quái, các đệ tử của ông cũng nhiều lần gây khó khăn cho bốn thầy trò Đường Tăng trong hành trình tìm kinh điển.
Những tình tiết này không chỉ tạo ra những thử thách đầy cam go cho những nhân vật chính mà còn thể hiện được tính cách phức tạp của Thái Thượng Lão Quân, với sự phong phú và đa chiều trong con người của một vị thần linh cao cả. Các đặc điểm tích cực và tiêu cực của ông đều làm cho hình tượng Đạo Đức Thiên Tôn trở nên sống động và đầy sức hút đối với khán giả.
Ý nghĩa của thờ Tượng Thái Thượng Lão Quân
Theo tín ngưỡng dân gian của người Trung Quốc, Đạo Đức Thiên Tôn được coi là một vị thần quan trọng, được tôn vinh và thờ cúng bởi nhiều người. Ông được coi là vị thần bảo trợ cho sức khỏe, sự giàu có, hạnh phúc và sự thành công trong cuộc sống. Ngoài ra, ông còn được cho là một vị thần có sức mạnh đặc biệt giúp con người tránh khỏi các tai họa, tà ma, thần dữ và các thế lực xấu.
Theo truyền thống, Thái Thượng Lão Quân được miêu tả là một vị thần giàu lòng từ bi, với một bộ râu dài trắng tinh, áo choàng đỏ và một cây gậy đúc bằng đồng. Vị thần này được coi là người thừa kế truyền thống của đạo Phật, và ông được cho là có sức mạnh tương đương với các vị thần khác trong tín ngưỡng Trung Quốc.
Việc thờ cúng Đạo Đức Thiên Tôn còn có ý nghĩa sâu sắc về mặt tâm linh. Đó là sự tôn trọng và cảm ơn đối với những điều tốt đẹp trong cuộc sống, cũng như mong muốn có sự giúp đỡ và bảo trợ của các vị thần trong cuộc sống hàng ngày. Thờ cúng Thái Thượng Lão Quân còn được coi là một phương thức để tìm kiếm niềm tin và hy vọng trong cuộc sống.
Ngoài ra, việc thờ cúng Thái Thượng Lão Quân còn được xem là một nét đẹp văn hóa của người Trung Quốc. Đây là một truyền thống lâu đời được truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, thể hiện sự tôn trọng và tinh tế trong các hoạt động tâm linh và tôn giáo. Việc thờ cúng Thái Thượng Lão Quân là một phần không thể thiếu trong cuộc sống của nhiều người Trung Quốc, và nó đã trở thành một phần quan trọng của văn hóa và truyền thống tôn giáo của đất nước này.
Kết luận, qua việc tìm hiểu về Đạo Đức Thiên Tôn, chúng ta có thể nhận thấy tầm quan trọng của hình tượng này trong văn hóa và tín ngưỡng Trung Quốc. Thái Thượng Lão Quân không chỉ là một vị thần linh tối cao mà còn là biểu tượng của sức mạnh, sự linh thiêng và trí tuệ. Sự hiện diện của ông trong văn học, nghệ thuật và tôn giáo là minh chứng cho sức ảnh hưởng sâu rộng mà ông đã để lại trong lòng người Trung Quốc và cả những người quan tâm đến văn hóa Á Đông. Việc tìm hiểu về Thái Thượng Lão Quân không chỉ giúp chúng ta hiểu rõ hơn về tín ngưỡng Đạo giáo mà còn mở ra cơ hội để khám phá sự phong phú và đa chiều của văn hóa Trung Quốc.
CÁT HỒNG CHÂN QUÂN
(283–343), tự là Trĩ Xuyên, hiệu là Bão Phác Tử (抱朴子) (đời gọi là Cát Tiên Ông) là hào tộc ở Giang Nam. Ông quê ở quận Đan Dương, chợ Câu Dung (nay thuộc Giang Tô), xuất thân là sĩ tộc thế gia. Cát Hồng có thời làm quan huyện lệnh ở Câu Lậu - thuộc Việt Nam ngày nay.
Cát Hồng
Ông là đạo sĩ, nhà y học, nhà bác học và nhà hóa học dược phẩm thời nhà Tấn. Ông có địa vị rất cao trong lịch sử Đạo giáo, lịch sử triết học Trung Quốc, lịch sử y dược cũng như lịch sử khoa học kỹ thuật.
Tương truyền, nội dung kinh văn trong《Linh Bảo Kinh》(灵宝经) là do Cát Huyền (葛玄) truyền cho Trịnh Ẩn (郑隐), Trịnh Ẩn (郑隐) truyền cho Cát Hồng (葛洪), sau đó lại truyền tiếp cho Cát Sào Phủ (葛巢父).
Cát Hồng (葛洪) sinh năm 283 tại huyện Câu Dung (句容), gia đình vốn là danh gia vọng tộc của nước Ngô (吴国) thời Tam Quốc (三国). Ông nội là Cát Hệ (葛系) từng giữ chức Đại hồng lư dưới triều Tôn Ngô (孙吴); thúc tổ phụ (ông chú) là phương sĩ Cát Huyền (葛玄) (còn gọi là Cát Tiên Ông (葛仙翁)) thời Tam Quốc (三国), người này từng theo học Tả Từ (左慈) về luyện đan và thuật trường sinh, vốn là thủ lĩnh Đạo giáo ở phương Nam. Cha ông là Cát Đệ (葛悌), sau khi nhập triều nhà Tấn (晋) đã từng làm Thái thú quận Thiệu Lăng (邵陵).
Cát Hồng (葛洪) là con trai thứ 3 trong nhà. Thuở nhỏ vì gia cảnh nghèo khó, ông đã tự mình đốn củi để mua giấy bút học tập. Năm 13 tuổi, cha qua đời, gia đạo sa sút. Ông tính tình ít ham muốn, không màng vinh lợi, đọc khắp điển tịch, đặc biệt yêu thích các phương pháp dẫn dắt thần tiên. Ban đầu ông muốn trở thành một nhà Nho, đã đọc rộng hiểu sâu các bộ Kinh, Sử, Tử, Tập, nhưng về sau lại nảy sinh hứng thú với thuật dẫn dắt thần tiên, bèn bái Trịnh Ẩn (郑隐) — đệ tử của Cát Huyền (葛玄) — làm thầy để học thuật luyện đan.
Ông lấy tự là Trĩ Xuyên (稚川), biệt hiệu là Bão Phác Tử (抱朴子) để thể hiện chí hướng giữ gìn sự mộc mạc, thủ vững bản chất, không bị lôi cuốn bởi vật dục.
Năm Thái An (太安) thứ 2 đời Tây Tấn (西晋) (303), Cát Hồng (葛洪) tham gia bình định cuộc khởi nghĩa nông dân do Thạch Băng (石冰) lãnh đạo tại Dương Châu (扬州) và lập được công lao, được bổ nhiệm làm Phục Ba tướng quân, lại ban tước Quan Nội hầu.
Năm Quang Hy (光熙) thứ 1 đời Tấn Huệ Đế (晉惠帝) (306), Trấn Nam tướng quân Lưu Hoằng (劉弘) bổ nhiệm Kê Hàm (嵇含) làm Thứ sử Quảng Châu (廣州), Kê Hàm (嵇含) đề cử Cát Hồng (葛洪) làm Tham quân cho mình. Cát Hồng (葛洪) đến Quảng Châu (廣州) trước, nhưng sau khi Kê Hàm (嵇含) bị hại, ông bèn đến núi La Phù (羅浮山) ẩn cư. Nhiều năm ở Quảng Châu (廣州), ông cảm thấy:
"Vinh vị thế lợi, ví như khách trọ, đã không phải vật thường có, khi ra đi cũng không thể giữ lại được" (Trích: Bão Phác Tử Ngoại Thiên – Tự Tự).
Thế là ông ẩn cư trong núi La Phù (罗浮山) thuộc tỉnh Quảng Đông để hái thuốc, luyện đan, đồng thời thực hiện những quan sát rất tỉ mỉ đối với nhiều ca bệnh.
Sau đó, Cát Hồng bái Thái thú Nam Hải là Bào Tịnh (鮑靚) làm thầy để học thuật luyện đan, nhận được cuốn Thạch Thất Tam Hoàng Văn. Ông cũng kết duyên với con gái của Bào Tịnh (鮑靚) là Bào Cô (鮑姑) – một người rất giỏi về phép cứu (灸法 moxibustion) – làm vợ.
Năm Kiến Hưng (建興) thứ 2 đời Mẫn Đế (愍帝) (313), Cát Hồng (葛洪) trở về quê hương, nhưng vẫn ẩn cư không ra làm quan. Năm Kiến Vũ (建武) thứ 1 đời Tấn Nguyên Đế (晉元帝) (317), ông viết xong các thiên Nội và Ngoại của cuốn《Bão Phác Tử》(抱朴子).
Năm Hàm Hòa (咸和) thứ 1 đời Thành Đế (成帝) (326), nhận lời mời của Vương Đạo (王導), ông giữ chức Châu Chủ bạ, sau thăng làm Tư nghị tướng quân. Năm Hàm Hòa (咸和) thứ 6 (331), Thứ sử Quảng Châu là Đặng Nhạc (邓岳) tiến cử Cát Hồng (葛洪) làm Thái thú Đông Quan (东官), nhưng ông từ chối không nhậm chức.
Năm Hàm Hòa (咸和) thứ 7 (332), nghe nói quận Giao Chỉ (交趾郡) (nay là Việt Nam (越南)) sản xuất đan sa, ông xin Thành Đế (成帝) cho ra làm Huyện lệnh huyện Câu Lậu (句屚) và được Thành Đế (成帝) đồng ý, thế là ông đưa cả gia đình đi về phía Nam. Khi đến Quảng Châu (廣州), Thứ sử Đặng Nhạc (鄧嶽) đã giữ ông lại, Cát Hồng (葛洪) vì vậy ẩn cư tại núi La Phù (羅浮山) để luyện đan và cuối cùng qua đời tại đây.
Những năm cuối đời, Cát Hồng (葛洪) dựng lều luyện đan tại Cát Lĩnh (葛岭) thuộc Hàng Châu (杭州) (địa danh Cát Lĩnh (葛岭) cũng từ đó mà có tên). Hiện nay tại địa phương vẫn còn Bão Phác Đạo Viện (抱朴道院), bên trong điện chính giữa tôn thờ tượng Tổ sư Cát Hồng (葛洪).