Bài Viết Công Khai
Avatar
20/05/2026 15:50:35 - Công Khai
Cách Giải Bùa Ngải

Thường các loại Ngài để làm bùa có khoảng 100 loại, nằm rải rác trên thế giới trong rừng sâu núi thầm. Bởi nó là loại cây có những tính chất đặc biệt, lại tồn tại lâu năm trong những nơi chướng khí ngút ngàn, nên Ngài này có tính Linh (Ma tính), là nơi mà các loài yêu ma quỷ quái rất thích cư ngụ ẩn náu. Cũng giống như là các Vong linh rất thích cư ngụ trên cây Chuối hoặc nơi có vườn Chuối ( Bởi vậy trong các lễ chiêu hồn, lập bàn thờ tang cho người mới mất người ta thường bày cây Chuối là theo lý này).

Đã nói đến Bùa chú thì dù là bất cứ loại Bùa chú nào cũng phải nhờ có lực lượng Âm binh giúp sức mới thành công. Ở đây ta hiểu đối với một số người dùng Bùa Ngài vào việc vô đạo thì lực lượng âm binh này chính là các loài yêu quý. Đối với yêu quỷ thì một đặc tính cơ bản của chúng là làm hại người. Nếu chúng giết được càng nhiều người thì bản thân chúng cũng được tăng thêm sức mạnh siêu nhiên. Chính vì vậy chúng rất thích những người thường kêu gọi và nhờ vả đến chúng để làm việc thất nhân thất đức. Chúng ảm nhập, kích động, điều khiển người đã kêu gọi chúng phải tuân theo tinh thần và ý chí của chúng.

Như vậy thì Bùa Ngài cũng được hiểu rõ ràng như sau: Bùa Ngải là loại Bùa được làm từ các loại Ngài lâu năm, dùng để kêu gọi các thế lực siêu nhiên hắc ám làm theo tôn chỉ, mục đích Thần chú của người đã tạo ra nó.

Theo sự hiểu trên thì Bùa Ngải này không cần phải đưa cho người bị hại. Người luyện Ngài và làm ra Bùa Ngải chỉ cần biết rõ thông tin về bản thân người bị hại như là Họ tên, tuổi, địa chỉ nơi ở (nếu có cả ảnh chụp khổ chủ thì quá tốt) là đã có thể tiến hành làm Bùa Ngải gây tai bay vạ gió cho đối thủ. Trong trường hợp khác thì chỉ cần biết rõ địa chỉ của một ngôi nhà nào đó, cũng có thể làm Bùa Ngải, nhờ yêu quý đánh phá nhà đó khiến toàn thể những người có liên quan phải gặp nhiều tai tật lạ lùng, bí ẩn.

Như vậy người biết Bùa Ngải muốn thư yếm làm hại một ai đó thì nhất định phải có những thông tin như:

1. Họ tên và tuổi

2. Địa chỉ nơi ở

3. Nếu có ảnh chụp của người đó nữa thì càng tốt. Không có thì Thầy Bùa sẽ cắt giấy thành hình người, rồi ghi họ tên, tuổi, địa chỉ nơi ở của người đó lên.

Tiếp theo Thầy Bùa đăng đàn, đọc Thần Chú, làm pháp, kêu gọi Ma Quý dùng năng lực thần thức siêu nhiên của chúng để đi đánh người vào những giờ nhất định trong ngày. Thường thì phải dùng Chính giờ thì linh lực phá hoại mới mạnh. Giờ xung, hình, hại với tuổi của người bị hại hay được sử dụng. Người Thầy Bùa khi đó sẽ đốt Ngải khô hun khói xông vào hình nhân (cắt giấy thành hình người) hoặc là vào ảnh của nạn nhân. Mồm đọc Thần Chú để kêu gọi Ma Quỷ hành hạ nạn nhân. Bọn Ma Quỷ đó sẽ dùng các đồ vật, vũ khí đánh vào người bị hại thành thương (không thành vết thương mà thành nội thương, tà khí xâm nhập vào trong cơ thể). Lâu dần bệnh trạng nặng lên, nếu không biết thì có thể chết.

Cách khác nữa là Thầy Bùa dùng 1 lư hương, bên trong có bài vị ghi tên, tuổi, nơi ở của người cần hại. Nam thì dùng 7 nén hương, Nữ thì dùng 9 nén hương cắm vào lư hương đó, phía trên treo hình nhân người muốn yếm để khói hương xông, ám vào hình và đọc Thần Chú kêu gọi Ma Quỷ đi đánh phá hại người.

Những người bị Bùa Ngài thư yếm như thế, thường trong ngày vào những giờ nhất định sẽ bị đau yếu, mỏi mệt vô cùng, tinh thần bất định hoảng hốt, lòng áy náy lo lắng không yên, sợ hãi vô cớ...vv. Sau giờ đó lại hết triệu chứng trên hoặc nhẹ đi hẳn. Ngày qua ngày nếu không biết bệnh sẽ nặng dần lên mà không biết do nguyên nhân gì, đi khám cũng chẳng ra bệnh.

Đối phó với các loại Bùa Ngải thì có hai cách :

 

1. Cách thứ nhất: Dùng một quả Trứng gà luộc chín, bóc vỏ rồi đem lăn lên người (bất kể vị trí nào), một lát sau thì bẻ đôi quả trứng ra. Nếu lòng đỏ trứng biến thành màu đen tức là đã bị Bùa Ngải. Nếu lòng đỏ trứng có màu máu đỏ tươi tức là bị Bùa Ngải đã lâu, phải mau chữa trị hóa giải nếu không sẽ chết.

Cách giải:

  • Dùng Bùa hộ thân đeo trên người 24/24 giờ (để chống Ma Quỷ tiếp tục đánh vào người)

  • Dùng Trứng gà luộc, bóc vỏ rồi lăn lên toàn bộ cơ thể, mọi nơi trên người. Mỗi một lần phải dùng đủ 3 quả trứng và cũng làm vào những giờ nhất định (giờ bị hành) tương ứng để hút hết tà khí nội thương trong thân thể ra ngoài. Khoảng 3 ngày hoặc 1 tuần, sau khi lăn trứng xong sẽ bẻ đôi trứng ra để kiểm tra. Nếu thấy vẫn còn màu đen là chưa khỏi, phải tiếp tục làm tiếp. Làm cho đến khi nào bẻ trứng ra không còn màu đen nữa thì thôi. Tức là bệnh đã khỏi.

Chú ý là không được bẻ trứng ra để xem thường xuyên, làm như vậy thì việc chữa trị sẽ phải lâu dài. Trứng đã lăn xong sau khi điều trị thì phải đem bỏ vào thùng rác, không được ăn và không được cho ai ăn. Ai ăn phải thì sẽ bị Bùa Ngải xâm nhập mà thành bệnh.

Sau khi đã khỏi bệnh thì người bị hại vẫn phải đeo Bùa hộ thân thường xuyên để tránh bị Thầy Bùa tiếp tục làm hại.

 

2. Cách thứ hai: Có thể dùng cành Liễu đã được Khai quang trì chú để tiến hành Khai quang Thân cho người bị Bùa Ngải. Pháp này dùng cành Liễu đập nhẹ vào người 61 cái từ trên xuống dưới, khắp người. Người vừa đập vừa phải niệm Lục Tự Thần Chú "Án Ma Ni Bát Di Hồng" để tăng thêm pháp lực. Người có tâm thành, lương thiện, có đức tin ở nơi tâm linh mà làm việc này sẽ rất hiệu nghiệm. Cũng làm vào những giờ nhất định tương ứng với "giờ bị hành".

Sau khi đập xong 61 cái thì người bị Bùa Ngài cầm cành Liễu đó mà quật tứ tung trong không gian trong nhà, từ trong ra ngoài. Tiếp đến treo cành Liễu đó ngoài cửa ra vào. Đó là công việc làm điều trị của một giờ bị hành, thường trong ngày có hai giờ nên phải làm hai lần như vậy. Khi nào thấy cành Liễu bị héo thì phải thay cành Liễu mới. Làm cho đến khi nào thấy thân thể nhẹ nhàng, tinh thần sảng khoái, trở lại bình thường thì thôi.

Trong thời gian này, người bị Bùa Ngải cũng nên đi lễ Chùa thường xuyên.

Trong trường hợp người bị Bùa Ngải biết được rõ ràng Thầy Bùa làm hại minh (Biết họ tên, tuổi, nơi ở) thì có thể nhờ đến Pháp sư chánh đạo để phá hủy Bùa Ngải của ông Thầy Bùa Ngài kia, khiến cho Ma Quỷ quay lại đánh ngay Thầy Bùa, ông Thầy này sẽ phải lãnh đủ tai họa thảm khốc. Mới hay "Vỏ Quýt dày có móng tay nhọn" và thế nào là "Gậy ông đập lưng ông".

Bài Viết Gợi Ý Cùng Chuyên Mục

Avatar
20/05/2026 15:49:58 - Công Khai
TÌM HIỂU VỀ SẮC ẤN LỆNH DÙNG TRONG CÕI ÂM

Trong tín ngưỡng thờ tam, tứ phủ chúng ta thường nghe nhắc đến khái niệm: Sắc, Ấn Lệnh.

Theo từ điển Hán Việt:

Sắc: Văn bản Lệnh: Mệnh lệnh cấp trên truyền xuống cấp dưới phải thi hành.

Sắc Lệnh: Mệnh lệnh bằng văn bản do cấp trên ban hành mọi người phải tuân theo.

Ấn: con dấu, hoặc dùng bàn tay đè xuống.

Khi thực thi nhiệm vụ được giao, các thầy pháp, đồng thầy...sau một thời gian thử thách tùy duyên sẽ được bề trên ban Sắc, ấn, lệnh, đây chính là quyền hạn trong công việc mà người thầy đó được giao trọng trách. Sắc, Ấn, Lệnh có khi là vô hình người trần khó nhìn thấy nhưng lại rất có giá trị trong thế giới tâm linh, dùng sắc, ấn, lệnh này điều binh khiển tướng trong âm giới để thực thi nhiệm vụ.

SẮC: Có 5 loại sắc bao gồm:

1. Sắc lệnh: Là mệnh lệnh bề trên phê chuẩn dựa trên thiện duyên, nghiệp quả tu tập để giao phó sứ mạng.

2. Sắc phong: Là mệnh lệnh bề trên phong thưởng, phong tặng quyền hạn (theo thiên quy cho chư thiên chư thánh).

3. Sắc dụ: Là mệnh lệnh bề trên truyền bảo (thông báo) tới chư thiên, chư thánh cho biết điều gì đang xảy ra hoặc sẽ xảy ra.

4. Sắc bảo: Là mệnh lệnh do Đại hội đồng tiên thánh phê truyền dựa trên thiện duyên nghiệp quả của người tu tập để giao phó sứ mệnh một cách bí mật không công khai, che giấu tài năng ngay cả tiên, thánh, thần, phật cũng it vị biết được.

5. Sắc lệ: là mệnh lệnh bề trên quy định chiếu theo cách thức, rập theo khuân khổ lề lối thiên quy để làm việc hoặc trong một số án lệ thì bề trên sẽ ban sắc lệ chiểu theo điều lệ mà phục hồi quyền hạn.

Trong thực tế thì trong công việc của tứ phủ chỉ có 3 hình thức cấp sắc: sắc lệnh, sắc lệ, và sắc dụ. Trong các Sắc này Sắc Lệnh liên quan trực tiếp đến nhiệm vụ của thanh đồng. Là người có mệnh đồng căn quả khi trình đồng mở phủ thì khi làm việc về tâm linh như soi căn, nối quả, gọi hồn diệt trừ yêu ma, luyện bùa luyện phép thì đều phải được cấp sắc lệnh bề trên cấp cho.

ẤN: Ấn không chỉ là đại diện cho quyền năng, tượng trưng cho uy quyền của chư tiên, chư thánh trong tiên giới, địa giới mà còn là một tín vật để truyền thụ tôn giáo. Ấn chính là Con dấu của bề trên ban cho, giống như một vị tướng phải có Ấn lệnh vua ban, mới có thể hiệu triệu binh sỹ. Nói có người nghe, đe phải có người sợ, một Lệnh ban xuống, quân sỹ âm binh nhất nhất tuân tùng.

Ấn lại có Ấn dương ( hữu hình) và ấn Âm (Vô hình).

Ấn hữu hình làm bằng các nguyên liệu như: Vàng, Ngọc, Đá, Gỗ…. hoặc ấn ở dạng vô hình ( ví dụ như phái nam tông, mật tông có khăn ấn, theo pháp mật tông gọi Ấn âm là Thiên Ấn, Còn Ấn Dương là Địa Ấn, trong Đạo Mẫu thầy dùng tay không để triện ấn).Thường khi thầy làm việc thì sẽ có ẤN lệnh ngay lòng bàn tay: 1 Tay ấn, 1 tay khuyết. Có phép thay lệnh hiệu triệu, ra lệnh hay trừ tà sát quỷ bằng ấn lệnh này, hoặc Người âm với nhau, chỉ cần giơ lòng bàn tay lên là người đối diện tức khắc hiểu là ai. Ấn được sử dụng trong các văn kiện, sớ tấu, điệp thức và bùa để triệu thần linh, làm tăng oai lực của bùa, thông quái đạt linh, trị bệnh, trừ tà, bảo vệ sức khỏe, v.v…hiệu quả không thể nghĩ bàn.

Sự khác nhau giữa hai loại ấn trên là ở chỗ:

Ấn hữu hình: sử dụng các nguyên liệu tự nhiên làm thành ấn

Ấn vô hình: Là do căn cơ tiền kiếp hoặc do tu hành mà được bề trên giao ấn, việc giao ấn đồng nghĩa với việc được chứng nhận, tùy theo khả năng mỗi người mà được truyền các loại ấn khác nhau. Ấn được truyền thẳng vào trong người thầy, gọi là ấn vô vi. Khi thầy hạ bút, viết sớ thì có một ấn vô vi trên đó.

Tùy theo từng pháp môn và theo từng đẳng cấp mà phân chia ra các loại ấn. Chúng ta có thể hình dung đơn giản thế này. Trong một cơ quan thì ấn ( dấu) của Giám đốc khác với ấn ( dấu ) của Phó giám đốc hoặc các Trưởng ban ngành, thì trong tâm linh cũng vậy, tùy theo nhiệm vụ được giao mà các Thầy có ấn khác nhau. Người xưa hay dùng các loại ấn như: Thiên bắc thìn trương ấn, thiên phù địa tiết chi ấn…..ở miền Bắc Việt Nam trong bảo tàng lịch sử có một loại ấn từ thời Hai Bà Trưng có hình con Nghê ở trên. Trong sách Tùy Thư Kinh Tập Chí có ghi chép: “ Lấy gỗ làm ấn, vào ngày thìn khắc ấn, hai tay chấp ấn hấp khí, lấy ấn trị bệnh”. Chữ khắc trên Ấn thì vô cùng đa dạng tùy theo từng giai đoạn lịch sử mà khắc các loại chữ khác nhau.

Các bạn thân mến, để được bề trên giao Sắc, ấn, lệnh là cả một quá trình phấn đấu không ngừng nghỉ, cho nên không phải người nào tu tập tới các phẩm cao nhất trong giới thầy bà là cũng được cấp Sắc, ấn, lệnh. Ví dụ: người được cha mẹ cấp sắc dẫn dắt đồng con, hay trừ tà diệt ma thì chỉ cần một lời nói một cái tay giơ lên uy quyền vô cùng. Hay cả việc tiến mã cũng thế có thầy tiến mã chạy được tất cả các cung các cửa nhưng có thầy tiến mã thì được mỗi phủ của vị cầm bản mệnh của thầy.

Nguyên tắc khi sử dụng Sắc, Ấn, Lệnh trong tâm linh “ tuyệt đối không được dùng bừa bãi trong các văn bản và lưu truyền các loại ấn giả, chỉ dùng ấn đúng với mục đích, nhiệm vụ được giao”. Trước khi làm việc phải xin cha mẹ cho phép, bề trên đồng ý thì lúc đó mới có thể tuân mệnh hành sự, không tự tung tự tác được.

Ví dụ trong Nghi lễ tiến mã tứ phủ khất đồng, trước khi làm nghi lễ này người đồng thầy phải là người được giao trọng trách soi căn nối quả thì mới có thể làm được. Người thầy sẽ có một lễ trình (thanh bông hoa quả) trước để tấu trình bề trên về công việc định làm. Cha mẹ tứ phủ sẽ xét nếu người đó được tiến mã, khất đồng thì sẽ ban lệnh cho phép đồng thầy thực thi nhiệm vụ. Nếu không được phép tiến mã khất đồng thì người đó sẽ buộc phải ra trình đồng mở phủ, hầu hạ cha mẹ. Trong nghi lễ đó người thầy được phép của bề trên sẽ đóng ấn lệnh vào tờ đơn cánh sớ, có thầy thì có ấn khắc đàng hoàng, có thầy chỉ dùng bàn tay ấn xuống. Người trần nhìn thì thấy vậy nhưng ấn này rất quan trọng trong âm giới. Nó như một lệnh được ban ra, khi các vị hành sai nhận được tờ đơn cánh sớ có ấn lệnh này sẽ cấp tốc chuyển tới các cung các cửa trong linh giới để thực thi nhiêm vụ đã được cho phép.

Tuy bề trên quy định kỹ càng về việc sử dụng Sắc, Ấn, Lệnh nhưng các thầy bà ngày nay hành động bừa bãi, bất tuân luật lệ, không theo nhân quả, tương lai những hành động sai sẽ phải tự chịu hậu quả.

Thanh Lam

Avatar
20/05/2026 15:29:38 - Công Khai
NGUỒN GỐC TAM - TỨ PHỦ

1. Nguồn gốc của Tam phủ

Trong lịch sử phát triển và bảo vệ đất nước cùng với văn hóa dân tộc bản địa, việc tôn thờ những người có công với đất nước, với nhân dân là một nét văn hóa tốt của Nhân Dân Việt Nam. Thời kỳ sơ khởi, vấn đề tôn thời đơn giản chỉ là miếu thờ, chưa có khái niệm về "Phủ", mỗi miếu có gắn liền với tên của thần hay tên địa danh nhằm tôn vinh người có công với Nhân Dân bản địa. Hay nói cách khác, tín ngưỡng thờ của Nhân dân là một nét văn hóa "đền ơn đáp nghĩa", dựa trên nhân vật có gắn kết lịch sử có thật và được nhân thần hóa. Khi Đạo giáo phù thủy (vào khoản thế kỷ thứ 3-2 TCN) có ảnh hưởng tới các dân tộc ngoài lãnh thổ Văn Lang, theo đó mà di cư khai khẩn xuống miền Trung Châu mang theo các tín ngưỡng thờ thần của Đạo giáo thần tiên và các thuật phù thủy của nhánh Đạo giáo phù thủy. Theo thời gian, đã hình thành thêm các tín ngưỡng thờ Thần, Thánh không phải là nhân vật lịch sử, có thể nói đây là các nhân vật Thần Thoại (như Ngọc Hoàng, Nam Tào, Bắc Đẩu,...). Khi tín ngưỡng được giao thoa, người dân bản địa đã chắt lọc những tinh hoa tín ngưỡng để ghép với tín ngưỡng thờ Nhân Thần của địa phương mà hình thành lên tín ngưỡng mới - Tín ngưỡng thờ Thần Linh, mà các thần linh được sắp xếp theo thứ tự ngôi vị, các nữ nhân thần có liên quan được bố trí thờ trong hậu cung (gọi là Tiền Nam thần Hậu gia quyến), các nữ nhân thần không có liên quan đến thì được thờ miếu riêng. Khi bị chiến tranh phương Bắc, Thục Phán An Dương Vương bị thất thế, đất nước vào tay Triệu Đà (khoảng năm 111 TCN đến 39), đây là sự khởi đầu của sự giao thoa tín ngưỡng mạnh nhất, đặc biệt là các tín ngưỡng thờ thần của Đạo giáo, cùng với các lễ tiết của Nho Giáo đã hình thành lên tín ngưỡng thần linh có hệ thống rõ ràng, bao gồm các nhân vật thần thoại đứng đầu và các nhân Thần bản địa:

  • Thiên Phủ - Ngọc Hoàng thượng đế: Đứng đầu hệ thống tín ngưỡng thần linh (hình thành Thiên Phủ). Trong đó, Nam Tào, Bắc Đẩu - Là Thần tiên dưới quyền của Ngọc Hoàng cai quản sinh tử của Dân sinh.
  • Địa phủ - Bắc Âm Phong Đô Nguyên Thiên Đại Đế (Diêm Vương): Đứng đầu âm phủ vẫn dưới quyền Ngọc Hoàng cai quản. Trong đó đã có Ngũ Nhạc Phủ Tiên Thánh Đế Quân, không có khái niệm phân chia Nhạc Phủ tách rời khỏi Địa Phủ.
  • Thủy Phủ - Phù Tang Cam Lâm Đại Đế (Bát Hải Long Vương): Đứng đầu các thần cai quản dưới nước vẫn dưới quyền Ngọc Hoàng cai quản

Đó là những thần linh có tính chất thần thoại, nhưng có ảnh hưởng rất lớn đến tín ngưỡng của nhân dân, dần hình thành lên các nghi lễ tế cúng thần linh để được giải bệnh, cầu công danh tài lộc,... có hệ thống. Từ đó mà hình thanh lên tín ngưỡng thờ thần tiên riêng của Việt Nam, được thể hiện rõ trong các văn cúng cổ: Công Đồng Thánh, Nam tào - Bắc Đẩu, Tam Phủ Thục Mệnh, Tam Phủ đối khám,... đây là những văn cúng và lễ nghi không liên quan đến tín ngưỡng thờ Mẫu. Cùng với hệ thống Nam Thần có công với nhân dân, từ đó hình thanh lên tên gọi là Tam phủ công đồng tiên thánh hay gọi tắt là Tam phủ.

2. Nguồn gốc của Tam, Tứ phủ

Khi hệ thống tín ngưỡng Thần tiên được hình thành, cùng với tín ngưỡng thờ nữ nhân thần đã tồn tại từ lâu đời nhưng chưa có hệ thống đầy đủ. Đến thời Lê Thái Tổ đã hình thành lên hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu có hệ thống hơn, có phân ngôi vị rõ ràng:

  • Thánh Mẫu - là Thần đứng đầu
  • Chầu Bà - là người hầu cận thánh Mẫu, thay mặt thánh Mẫu cai quản, quán xuyên các công việc mang tính vĩ mô
  • Thánh Cô - là Người được giao nhiệm vụ cai quản các hạt (vùng, lũng, bộ, khu,...) cụ thể, có nhiệm vụ cụ thể
  • Cô Bé, Cậu Bé - Là người hầu cận Thánh Mẫu: dâng trà, hoa quả,...

Trong tín ngưỡng thờ Mẫu Thuần túy, chưa có khái niệm Nam Thần (lớn tuổi), quan niệm này có ảnh hưởng bởi lễ nghi của Đạo Giáo và Nho Giáo về phân biệt Nam Nữ rõ ràng. Đây là hệ thống tín ngưỡng hình thành do sự thể hiện Nữ giới muốn được công bằng trong đời sống tâm linh như Nam giới. Từ đó mà hình thành phát triển độc lập với tín ngưỡng nam thần tiên. Trong tín thờ mẫu, dựa trên mỗi vùng miền mà có các tên gọi khác nhau, và đây là căn cứ để sau này hình thành nên các Phủ của tín ngưỡng thờ Mẫu:

  • Trên trời thì gọi là Thượng Thiên - đây là vùng miền có tính chất tượng trưng,
  • Trên miền sơn cước - thuộc miền rừng núi sống phụ thuộc vào săn bắn, hái cây rừng thì gọi là Thượng Ngàn (Hán Việt gọi là Thượng Ngạn - 上岸),
  • Miền đồng bằng sống phụ thuộc vào trồng trọt, chăn nuôi gọi là Hoàng Địa,
  • Miền sông nước sống phụ thuộc vào nghề đánh bắt cá gọi là Duyên Hải.

Hệ thống thờ phụng có Mẫu, Chầu, cô, cô bé và cậu bé được gọi là một Phủ, như vậy mà hình thành lên Tứ Phủ ứng với 4 vùng miền tự nhiên: Thiên Phủ (Thượng Thiên), Địa Phủ (Hoàng Địa), Nhạc Phủ (Thượng Ngàn), Thoải Phủ (Duyên Hải). Từ đó mà hình thành lên hệ thống tín ngưỡng Tứ Phủ Thánh Mẫu Không nên nhầm tưởng Tứ Phủ Thánh Mẫu với Tam Tòa Thánh Mẫu của Sơn Trang nhất Phái. Trong Sơn Trang nhất phái lại có lỗi thờ riêng biệt rõ ràng không liên quan đến Tứ Phủ Thánh Mẫu. Tuy nhiên, nhân thần thờ phụng thì có sự giao thoa là Mẫu Thượng Ngàn, bởi Thanh Sơn Nhất Phái thì chỉ thờ những nhân Thần miền sơn cước:

  • Thanh Sơn Chính Phái Đệ Nhất Thượng Ngàn, sắc phong Lê Mại Đại Vương, hiệu viết Bạch Anh Quản Trưởng Sơn Lâm Công Chúa. Đây là Nhân Thần có giao thoa với Mẫu Thượng Ngàn của Nhạc Phủ trong Tứ Phủ Thánh Mẫu.
  • Đệ Nhị Sơn Trang Cao Sơn Thần Nữ Diệu Tín Thiền Sư. Đây là Nhân Thần không nằm trong Tứ Phủ
  • Đệ Tam Diệu Nghĩa Tàng hình Sơn trang Công chúa. Đây là Nhân Thần không nằm trong Tứ Phủ

Tới thế kỷ XVII-XVIII, Khi tín ngưỡng thờ Tứ phủ Thánh Mẫu đã phát triển đạt vào thời kỳ Nam Nữ không còn quá phân biệt thì hệ thống tín ngưỡng thờ Mẫu Tứ Phủ không còn chỉ riêng thờ Nữ Thần, mà đã hình thành lên một hệ thống thờ có mặt cả Nam Thần, cùng với sự phát triển Phật giáo mà hình thành lên tên gọi tín ngưỡng Tam Tứ Phủ - ý muốn ghép cả tên gọi Tam phủ tiên thánh của Nam Thần và Tứ Phủ Thánh Mẫu của nữ Thần. Theo thời gian, nhiều khi họ đã quên đi chữ "Tam" trong Tam Phủ của tín ngưỡng nam Thần tiên, họ đã làm lu mờ đi tín ngưỡng này, mà chỉ suy tôn phần thờ Thánh Mẫu. Trong khi đó, các lễ nghi của Tam phủ tiên thánh vẫn lưu truyền và thực hiện, sự mập mờ này đã vô tình làm mất đi tính đa dạng của tín ngưỡng dân gian Việt nam có từ lâu đời. Vì vậy, Linh Thông muốn làm sáng tỏ các khái niệm và lịch sử của từng ngôi vị và lịch sử Tam, Tứ Phủ để chúng ta hiểu rõ hơn mà tôn trọng tín ngưỡng dân gian đã lưu truyền lâu đời. Cũng tinh thần thờ thánh Mẫu, khi giao thoa Đạo Phật, Quán Thế Âm (hay còn gọi là phật bà Thiên thủ thiên nhãn) đã được phối thờ trong tín Ngưỡng Tam Tứ Phủ. Bởi Bà cũng là nữ nhân tu hành thành Bồ tát, cứu dân độ thế có công với nhân dân, lại phù hợp với tinh thần tín ngưỡng thờ Nữ Nhân Thần của tín ngưỡng thờ Mẫu. Đây chính là nhân Thần giao thoa giữa tín ngưỡng và Tôn giáo Phật giáo đã được suy tôn là Bồ tát.

3. Phối thờ phụng trong Tam, Tứ phủ

Trong hệ thống thờ Tam Tứ Phủ ngoài các Nữ Nhân Thần thì còn có các Nam Nhân thần có nhiệm vụ rõ ràng trong hệ thống tín ngưỡng, Linh Thông sẽ cố gắng làm rõ thần tích ứng với giai đoạn lịch sử của từng ngôi vị trong Tam Tứ Phủ ở trong các bài viết sau. Hệ thống tín ngưỡng trong Tam Tứ Phủ gồm:

  1. Thiên thủ thiên nhãn Quán âm Bồ tát - Đại diện cho Phật giáo
  2. Ngọc Hoàng thượng đế - Đại diện cho Tam giới tiên thánh (Tam Phủ), cai quản tất cả các cõi: Thiên, Địa, Thủy, Nhạc. Giúp việc Ngọc Hoàng cai quản nhân sinh gồm có:
    • Trên thiên đình có Nam Tào và Bắc Đẩu quản lý việc Sinh, Tử, bản mệnh của nhân sinh, điều khiển thời tiết,...
    • Dưới Địa phủ có Bắc Âm Phong Đô Nguyên Thiên Đại Đế (Diêm Vương) cai quản, gồm có:
      • Phần Âm thế có thập điện vương cai quản
      • Phần dương thế có Ngũ Nhạc Phủ Tiên Thánh Đế Quân
    • Dưới Thủy Phủ có Phù Tang Cam Lâm Đại Đế cai quản dưới nước
  3. Tứ phủ Thánh Mẫu: Tứ vị Thánh Mẫu đứng đầu trong mỗi Phủ - Đại diện cho Tứ Phủ vạn linh:
    • Thiên Tiên Thánh Mẫu Cửu Trùng Thiên Vương Thanh Vân Công Chúa
    • Địa Tiên Thánh Mẫu Liễu Hạnh Công Chúa Sắc Phong Chế Thắng Bảo Hoà Diệu Đại Vương.
    • Thượng Ngạn Thánh Mẫu Lê Mại Đại Vương Trưởng Sơn Lâm Công Chúa.
    • Thuỷ Tiên Thánh Mẫu Xích Lân Long Nữ Ngọc Bạch Hồ Trung Thuỷ Tinh Công Chúa
  4. Trong lối thờ hiện tại, ta chỉ thấy trong cung có 3 ngôi vị được thờ, với các lý do được lý giải như sau:
    • Ngôi vị Địa Phủ, Nhạc Phủ, Thoải Phủ là các Nữ Nhân thần lịch sử của người Việt được suy tôn là Thánh Mẫu đại diện cho các Phủ có thật.
    • Ngôi vị Thiên Phủ là ngôi vị có tính tượng trưng - Thần Thoại
    • Người ta kiêng số 4, muốn lấy số 3 phù hợp với quan niệm trong tín ngưỡng: Tam Thanh, Tam Bảo, Tam Sinh, Tam Phủ Tiên Thánh... và đặc biệt là quan niệm thờ số lẻ.
    • Tín Ngưỡng thờ Mẫu được hình thành do Nhân dân nhớ ơn công đức của nhân vật lịch sử có công với đất nước, có công với nhân dân Việt Nam
    Do đó, trong cung thường được phụng thờ 3 ngôi Thánh Mẫu, còn mẫu Thượng Thiên được rước thờ riêng ở ban ngoài trời gọi là ban Mẫu Bán Thiên (Mẫu Thượng Thiên). Hiện nay, Khi mẫu Thượng Thiên Cửu Trùng Thanh Vân công chúa được thờ tại ban Bán Thiên, thì trong cung còn 3 ngôi vị là Địa, Nhạc Thủy, người ta lại quan niệm Thiên Địa là một thì suy tôn tiếp Địa tiên Thánh Mẫu làm mẫu Thượng Thiên. Nếu như vậy, vô tình ta đã thờ 2 mẫu thượng thiên: 1 ở bên ban Bán thiên, 1 ở trong cung đây là điều có vẻ không hợp lý. Họ lấy lý do là Mẫu Địa Tiên Thăng về trời để suy tôn, đây có lẽ là lý do không hợp lý, bởi vì:
    • Tất cả các Mẫu, các Nhân Thần khi mất đi đều về trời làm Thần, Thánh.
    • Nếu xây dựng hình tượng mẫu về trời cả hồn và xác thì thật là không hợp với lôgic và lịch sử:
      • Về mặt Logic: Là xác phàm thì làm gì có khả năng về trời, biến hóa vô thường.
      • Về mặt Lịch sử: Theo Ngọc Phả, Mẫu Liễu Hạnh là Giáng Tiên, mất ngày 3/3/1577 thọ 21 tuổi, mộ phần táng tại xứ Cây Đa, xã Tiên Hương, và Lăng Mộ hiện nay được tu sửa vẫn còn đó.
    Nếu giả sử hợp nhất 2 phủ Thiên Địa là 1 thì các Nhân Thần của Địa Phủ đều trở thành nhân thần của Thiên Phủ. Đây lại là một mâu thuẫn, bởi vì, Nhân Thần mà nhân dân suy tôn và thờ phụng là con người có thật, được lịch sử ghi nhận, sống cùng với mọi người và thác thì về với trời làm Thần. Như vậy, vô tình ta đã đưa các nhân vật lịch sử này sống ở một nơi mà ta chưa bao giờ tới, đó là trên trời. Theo Linh Thông, việc tôn xưng 3 vị trong cung thì cũng nên giữ đúng tên phủ của Mẫu là Địa tiên Thánh Mẫu, Thượng ngàn Thánh Mẫu và Thủy Cung Thánh Mẫu, hợp với Thượng Thiên Thánh Mẫu được thờ ở ban thờ Cửu Trùng Thiên (ban thờ Mẫu Bán Thiên) sẽ hợp lý hơn và phù hợp với các văn cúng cổ và tín ngưỡng truyền thống mà cổ nhân lưu truyền. Nếu xét về thứ tự ngôi thứ thì nên tuân theo quy tắc thời gian xuất hiện của thánh Mẫu mà Cổ Nhân đã ghi chép lại và cũng phù hợp với các xưng hô thông thường của Nhân sinh (sinh ra trước là chị, sinh ra sau làm em):
    • Đệ Nhất Thượng Thiên Thánh Mẫu, Cửu Trùng Thiên Vương Thanh Vân Công Chúa
    • Đệ Nhị Thượng Ngàn Thánh Mẫu, Lê Mại Đại Vương Chưởng Sơn Lâm Công Chúa
    • Đệ Tam Thoải Cung Thánh Mẫu, Xích Lân Long Nữ Ngọc Bạch Hồ trung Thủy Cung Công chúa
    • Đệ Tứ Địa Tiên Thánh Mẫu, Liễu Hạnh Công chúa sắc phong Chế thắng Hòa Diệu Đại Vương Mã vàng Bồ Tát
    Nếu xét về tính bình đẳng của các phủ thì mỗi Phủ có tính độc lập riêng, và có tính ngang bằng với nhau dưới sự cai quản của Ngọc Hoàng Thượng Đế, thì cũng có thể nên bỏ ngôi thứ mà chỉ nên xưng hô theo tên Phủ:
    • Thượng Tiên Thánh Mẫu - Cửu Trùng Thiên Vương Thanh Vân Công Chúa
    • Địa Tiên Thánh Mẫu - Liễu Hạnh Công chúa sắc phong Chế thắng Hòa Diệu Đại Vương Mã vàng Bồ Tát
    • Thượng Ngàn Thánh Mẫu - Lê Mại Đại Vương Chưởng Sơn Lâm Công Chúa
    • Thoải Cung Thánh Mẫu - Xích Lân Long Nữ Ngọc Bạch Hồ trung Thủy Cung Công chúa
  5. Ngũ Vị Vương Quan: còn gọi là Ngũ Vị Tôn Ông, gồm 4 Vị quan đại diện Tam giới tiên thánh quản lý 4 phủ và 1 vị quan lớn cai quản thần binh tam giới, Đây là 5 vị quan lớn thuộc Tam giới tiên thánh (Tam Phủ), mỗi người có nhiệm vụ cụ thể riêng biệt:
    • Đệ Nhất Vương Quan: Đệ Nhất Thượng Thiên Hoàng thái tử Vương Quan còn gọi là quan lớn Thượng Thiên, Ngài trực tiếp hầu cận vua cha, được thay quyền và đại diện cai quản cõi nhân gian, thừa hành Tam giới, tâu đối tội phúc nhân danh cõi thượng thiên.
    • Đệ Nhị Vương Quan: Đệ Nhị Thượng Ngàn Quan Giám Sát Vương Quan còn gọi là quan lớn Giám Sát, ngài có nhiệm vụ thanh tra giám sát thượng ngàn.
    • Đệ Tam Vương Quan: Đệ Tam Thoải Cung hoàng thái tử vương quan còn gọi là quan lớn Đệ Tam, ngài có nhiệm vụ cai quản các Thanh Đồng.
    • Đệ Tứ Vương Quan: Đệ Tứ Khâm Sai Hoàng Thái Tử Vương Quan còn gọi là quan lớn Đệ Tứ, Ngài được vua cha giao nhiệm vụ kiếm soát, trấn giữ đồng bằng địa linh.
    • Đệ Ngũ Vương Quan: Đệ Ngũ hoàng thái tử Vương Quan còn gọi là Quan lớn Tuần Tranh, Ngài được Ngọc Hoàng ban cho thống lĩnh thiên địa, thủy binh, trừ tà, sát quỷ.
  6. Tứ phủ Chầu Bà: bao gồm 12 chầu bà, mỗi bà có nhiệm vụ và vai trò khác nhau:
    • Có 4 vị chầu bà là hiển thân của 4 vị Thánh Mẫu của mỗi Phủ:
      • Chầu bà Đệ Nhất Thượng Thiên - Đại diện cho Mẫu Thượng Thiên để kiểm soát trong Thiên Phủ
      • Chầu bà Đệ Nhị Thượng Ngàn - Đại diện cho Mẫu Thượng ngàn để kiểm soát trong phủ Nhạc Phủ.
      • Chầu bà Đệ Tam Thoải cung - Đại Diện cho Mẫu Thoải Cung kiểm soát trong Thủy Phủ
      • Chầu bà Đệ Tứ Hoàng Địa - Đại Diện cho Mẫu Địa Tiên kiểm soát trong Địa Phủ
    • Có 2 vị chầu bà là đại diện của 2 vị Chúa bà của Sơn trang:
      • Chầu bà Đệ Lục - Đại diện cho Mẫu Đệ Nhị thánh tổ Sơn trang (là Cao Sơn Thần nữ) cai quản sơn trang.
      • Chầu Bé (Chầu bà út, ót) - Đại diện cho Mẫu Đệ Tam thánh tổ Sơn trang (là Chúa bà Ót) cai quản sơn trang.
    • Có 3 vị Chầu Bà thuộc Văn Thần:
      • Chầu bà Năm Suối Lân
      • Chầu bà Chín Cửu Tỉnh
      • Chầu bà Bản Đền
    • Có 3 Vị Chầu bà Thuộc Võ Tướng:
      • Chầu bà Bảy Tân La - Võ tướng của Hai bà Trưng
      • Chầu bà Tám Bát nàn - Võ tướng của Hai bà Trưng
      • Chầu bà Mười Đồng Mỏ - Võ tướng thời Lê Thái Tổ
  7. Tứ vị Thánh Hoàng: gồm là Tứ vị Thánh Hoàng được giao nhiệm vụ quản lý, chấm đồng (xây dựng quân đội)...:
    • Quan Hoàng Cả - hay còn gọi là Hoàng Quận, Hoàng có nhiệm vụ quản lý, trông coi sổ sách
    • Quan Hoàng Đôi - Quan có quyền thay quyền Tứ Phủ đi chấm lính nhận đồng
    • Quan Hoàng Bảy - Quan có quyền thay quyền Tứ Phủ đi chấm lính nhận đồng
    • Quan Hoàng Mười - Quan có quyền thay quyền Tứ Phủ đi chấm lính nhận đồng
    Ngoài ra, còn có 6 vị hoàng khác khi thác về trời làm thần.
  8. Tứ phủ Thánh Cô: bao gồm có 12 vị thánh Cô
    • Cô Đệ Nhất Thượng Thiên
    • Cô Đôi Thượng Ngàn
    • Cô Ba Thoải Cung
    • Cô Tư Địa Phủ
    • Cô Năm Suối Lân
    • Cô Sáu Sơn Trang
    • Cô Bảy Tân La
    • Cô Tám Đồi Chè
    • Cô Chín Sòng Sơn
    • Cô Mười Mỏ Ba
    • Cô Bé Thượng Ngàn - Cô mười một
    • Cô Bé Bản đền - Cô mười hai
    Trong đó, có tứ vị Khâm sai Thánh Cô: Cô Đôi Thượng Ngàn, Cô Bơ Thoải, Cô Chín Sòng Sơn, Cô Bé Đông Cuông.
  9. Tứ phủ Thánh Cậu: Tứ phủ Khâm Sai thánh Cậu, bao gồm có 4 vị Thánh cậu Hoàng được giao nhiệm vụ chấm lính nhận đồng (chiêu binh mãi mã):
    • Cậu Hoàng Cả Thượng Thiên
    • Cậu Hoàng Đôi Thượng Ngàn - còn gọi là Cậu bé Hoàng
    • Cậu Hoàng Ba Thoải Cung
    • Cậu Hoàng Tứ Địa Phủ
    Ngoài ra, còn có các Cậu bé Bản đền, cậu Quận,...
  10. Hạ Ban: Được thờ các Thần Binh trong tam giới, đại diện là Ngũ Hổ Thần Tướng, Xà Thần (Thanh Xà Bạch Xà) và các Thần Binh bản đền bản điện.

4. Phối thờ phụng Ngoài Tứ phủ

Tính hoa của Hệ thống tin ngưỡng Tam, Tứ Phủ là đã bao gồm cả Nam Thần Và Nữ Thần, cho nên khi phối thời phụng không còn giới hạn về chức tước, ngôi vị hay các phái tín ngưỡng. Trong lối phối thờ hiện nay, thường ta thấy có phối thờ Trần Triều và Sơn trang. Đây là hai phái không thuộc hệ thống tứ phủ, nhưng không thể nằm ngoài Tam phủ. Việc phối thờ Sơn Trang, Trần Triều được thể hiện ở lưỡng ban:

  • Ban Sơn Trang: Đại diện đứng đầu là Chúa Bà Đệ Nhị Thánh Tổ Sơn Trang Cao Sơn Thần Nữ - đại diện cho Văn Thần, được xây dựng hình tượng về ban tài tiếp lộc.
  • Ban Trần Triều: Đại Diện đứng đầu là Đức Thánh Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn - Đại diện cho Võ Thần, được xây dựng hình tượng trừ tà, sát quỷ, trấn giữ của đền, cửa điện,...

Ngoài ra, một số cửa đền, cửa điện còn phối thờ các Nhân Thần khác có công với nhân dân, với đất nước nhưng không thuộc hệ thống tín Ngưỡn Tứ Phủ thánh mẫu như: Chử đồng tử tiên dung, Thánh Gióng,...

5. Quy ước và khái niệm được dùng trong Tam, Tứ Phủ

a. Quy ước về màu sắc

Màu áo của các phủ có tính tượng trưng và đại diện, và có ý nghĩa riêng:

  • Màu đỏ - đại diện cho Thiên Phủ (do gần với mặt Trời nên có màu Đỏ);
  • Màu Xanh - đại diện Nhạc Phủ vì thượng ngàn là rừng xanh;
  • Màu Vàng - Đại diện cho Địa Phủ (do màu vàng có âm Hoàng (黃) cũng có nghĩa chỉ về Đất, còn nếu xét theo màu thì Đất không có màu vàng);
  • Màu Trắng - Đại diện cho Thủy Phủ vì nước thì có màu Trắng.

b. Một số khái niệm

  • Phủ: Chữ Hán Việt: 府; là một đơn vị hành chính (cao hơn cấp tỉnh, nhỏ hơn cấp trung ương), có các ban bệ chức vị, tước vị
  • Điện: Chữ Hán Việt: 殿; là nơi để thờ các thần thánh
  • Bộ: Chữ Hán Việt: 部; là đơn vị có chức vụ riêng trong một cơ quan (phái tín ngưỡng, một phủ). Ví dụ: Lục Bộ Trần Triều - gồm sáu Vị Đức Ông của Trần Triều chuyên trừ tà sát quỷ.
  • Đền: Chữ Hán Việt: 祠 (từ); là nơi để thờ thần thánh, thờ thần chủ rõ ràng, sau đó có thể là các thuộc hạ hầu cận. Thông thường được thờ Nhân Thần, người có công với đất nước, với nhân dân.
  • Miếu: Chữ Hán Việt: 廟; là nơi để thờ thần thánh, thờ thần chủ rõ ràng, thường không có các thuộc hạ hầu cận, thường thờ những thần linh mang tính chất Thần Thoại.
Ảnh bài viết
Avatar
20/05/2026 15:27:57 - Công Khai
NGHI LỄ TRÌNH ĐỒNG MỞ PHỦ

I. Điều kiện tiến hành nghi lễ trình Đồng mở Phủ

Trong tín ngưỡng thờ mẫu, trình Đồng mở Phủ là nghi lễ thiêng liêng của người bước vào tín ngưỡng hầu đồng sau lễ này người được trình đồng mở phủ được gọi là Tân Đồng, chính thức là thanh đồng, thờ phụng chư vị Thánh Mẫu và được hưởng các đặc ân của nhà ngài. Tuy nhiên, để tiến hành nghi lễ trình đồng mở phủ cả người tiến hành lễ mở phủ (Thủ Nhang) và người được hưởng nghi lễ đều phải có các điều kiện nhất định:

1. Điều kiện đối với Người được mở phủ

  1. Đã khẳng định có căn duyên với Tín Ngưỡng thờ Mẫu ở mức độ căn thâm số nặng đến mức bắt buộc phải làm tôi Tứ phủ
  2. Đã tiến lễ Tôn bản mệnh đủ bách nhật: Đây là quy ước theo lối cổ, bởi vì sau 100 ngày Người mong muốn được mở phủ có đủ thời gian để chuẩn bị những việc sau:
    • Có đủ thời gian để tìm hiểu các lễ nghi, quy ước,... trong tín ngưỡng thờ Mẫu, Hầu Đồng
    • Có đủ thời gian để nhất tâm, vững lòng tin vào tín ngưỡng thờ Mẫu và Hầu Đồng
    • Có đủ thời gian để thanh tịnh cơ thể, sám tạ gia tiên làm trong sạch bản mệnh trước khi Trình Đồng mở Phủ
    • Có đủ thời gian để chuẩn bị các điều kiện về vật chất, tài chính,...
    • Có đủ thời gian để tìm hiểu các chuẩn mực khác trong tín ngưỡng thờ Mẫu
  3. Nếu là người đã trình Đồng mở Phủ rồi, thì phải làm nghi lễ Cuốn Cầu hoặc nghi lễ tương tự để xin thoái đồng trước khi thực hiện lại nghi lễ mở phủ.

2. Điều kiện đối với Người mở phủ - Thanh Đồng

Người tiến hành nghi lễ mở phủ thường phải là Thanh Đồng, thường là Thủ Nhang đề, điện. Để tiến hành lễ Trình Đồng mở Phủ cần phải có điều kiện sau:

  1. Là Thanh Đồng có tuổi Đồng tối thiểu quá 9 năm, bởi vì:
    • Người có tuổi Đồng 9 năm trở đi là người đã nắm rõ về các quy ước, các luật lễ nghi và hưởng đầy đủ các ân huệ của Thánh Mẫu.
    • Người có tuổi Đồng 9 năm trở đi là người đã trải qua một "thập niên băng giá" của bản mệnh. Bởi khi trình đồng mở phủ, Thanh Đồng cũng từng bị "cơ hành" và xin tiến vào tín ngưỡng thờ Mẫu, nghi lễ Hầu Đồng, trong thời gian này Thanh Đồng chưa qua hết được thời kỳ băng giá của bản mệnh, hay còn gọi là thời kỳ Thử lính, Thử đồng. Thanh Đồng thường truyền miệng nhau là 3 năm thử lính, 9 năm thử đồng đây là 2 con số có tính chất lồng nhau, chứ không phải là là 2 giai đoạn nối tiếp. Nghĩa là, nếu qua được 3 năm thử thách thì mới chỉ là qua được giai đoạn thử lính (tức thử Tân Đồng), và sau 9 năm trình đồng mở phủ thì mới đủ thời gian thử Thanh Đồng. Theo vòng lặp thăng trầm của Thiên Can thì đây cũng là thời gian mà con người trải qua đủ thập niên (10 năm) của chu kỳ "Hàn băng" (chu kỳ xấu) của một mệnh người nếu đã vướng vào nó. Như vậy, sau 9 năm thì Thanh Đồng Thủ Nhang mới bước sang một thời kỳ mới tươi tốt, như vậy sẽ tiếp được nhiều phúc, chúc được được nhiều tài lộc cho Tân Đồng.
  2. Là Thanh Đồng Thủ Nhang của một cửa điện, đền, phủ thờ Tứ Phủ
  3. Là Thanh Đồng có Tâm Đạo tốt, nắm chắc các quy tắc trong nghi lễ trình Đồng mở Phủ

II. Nghi lễ trình Đồng mở Phủ

1. Nghi lễ trình Đồng mở Phủ

Trong nghi lễ Trình Đồng Mở Phủ được chia là 2 nghi lễ: Nghi lễ pháp sự và nghi lễ Hầu Trình Đồng Mở Phủ

a. Nghi lễ pháp sự

Chủ lễ thỉnh mới pháp sư (thông thường là Thủ Nhang mời giúp) thảo sớ văn, tiến lễ chư Phật, tiến lễ Tam giới Tiên Thánh và tiến lễ Tứ Phủ thần linh. Trong nghi lễ, Pháp sư tiến hành các pháp sự Trình Căn Bản mệnh, tấu thỉnh Tiên Thánh về nghi lễ Hầu trình Đồng mở phủ của Đồng Thầy. Chú ý, Đây là nghi lễ do Pháp sư thực hiện, Thanh Đồng không được phép thực hiện.

b. Nghi lễ Hầu Trình Đồng mở Phủ

Đây là nghi lễ do Đồng Thầy thực hiện, phải tuân theo đầy đủ nghi thức Hầu Đồng, trong đó có thỉnh Hầu Ngũ vị Tôn Ông (Ngũ vị quan lớn) về khai đàn mở phủ, thỉnh hầu Tam vị Thánh Bà (Chầu đệ nhị, Chầu Lục, Chầu Bé) về sang khăn áo, chứng lễ nhận Đồng, và thỉnh Tứ phủ tiên thánh khác về chứng lễ. Cụ thể như sau (chú ý, bài viết dưới đây không có ý sắp xếp thứ tự hầu ngự):

  1. Ngũ vị tôn ông: Ngự về tiến hành nghi thức khai Phủ:
    • Đệ Nhất Tôn Ông: Đệ Nhất Thượng Thiên Hoàng thái tử Vương Quan còn gọi là quan lớn Thượng Thiên, Ngài trực tiếp hầu cận vua cha, được thay quyền và đại diện cai quản cõi nhân gian, thừa hành Tam giới, tâu đối tội phúc nhân danh cõi thượng thiên. Ngài ngự về khai Thiên Phủ, tiến hành nghi thức nhận Đồng Nhân, chép biên sổ sách.
    • Đệ Nhị Tôn Ông: Đệ Nhị Thượng Ngàn Quan Giám Sát Vương Quan còn gọi là quan lớn Giám Sát, ngài có nhiệm vụ thanh tra giám sát thượng ngàn. Ngài ngự về khai Nhạc Phủ, tiến hành nghi thức nhận Đồng Nhân, chép biên sổ sách.
    • Đệ Tam Tôn Ông: Đệ Tam Thoải Cung hoàng thái tử vương quan còn gọi là quan lớn Đệ Tam, ngài có nhiệm vụ cai quản các Thanh Đồng. Ngài ngự về khai Thủy Phủ, tiến hành nghi thức nhận Đồng Nhân, chép biên sổ sách.
    • Đệ Tứ Tôn Ông: Đệ Tứ Khâm Sai Hoàng Thái Tử Vương Quan còn gọi là quan lớn Đệ Tứ, Ngài được vua cha giao nhiệm vụ kiếm soát, trấn giữ đồng bằng địa linh. Ngài ngự về khai Địa Phủ, tiến hành nghi thức nhận Đồng Nhân, chép biên sổ sách.
    • Đệ Ngũ Tôn Ông: Đệ Ngũ hoàng thái tử Vương Quan còn gọi là Quan lớn Tuần Tranh, Ngài được Ngọc Hoàng ban cho thống lĩnh thiên địa binh, trừ tà, sát quỷ. Ngài ngự về thu chấp kim ngân tài mã, chấp điệp sớ văn tấu trình tứ phủ.
  2. Tam vị thánh Bà:
    • Chầu đệ nhị: Đại diện cho tam vị Thánh Mẫu chứng lễ nhận Đồng (ngài là hiện thân của Mẫu Đệ Nhị) Chầu Đệ Nhị về sang áo nhận Đồng hoặc chứng tiền trăm trầu trình Thông thường Thỉnh Chầu Đệ Nhị về sang khăn áo cho Thanh Đồng có căn duyên lập điện thờ phụng.
    • Chầu Lục cung nương: Đại diện cho Sơn trang chứng lễ nhận Đồng (do Ngọc Đế cho bà hiển thánh cai giữ miền non ngàn sơn trang) Chầu Lục về sang áo nhận Đồng hoặc chứng tiền trăm trầu trình Thông thường Thỉnh Chầu Lục về Sang khăn áo cho Thanh Đồng không có căn duyên lập điện thờ phụng mà chỉ mở phủ Hầu Mẫu xin lộc làm ăn.
    • Chầu Bé: Chầu Bé thuộc tam tòa sơn lâm, sơn trang và cũng là người kề cận Công Đồng (hay gọi là Công Đồng Bắc Lệ), Chầu về chứng lễ nhận Đồng Chầu Bé về chứng tiền Trăm trầu trình, đôi khi cũng sang khăn áo nhận Đồng (nhưng rất ít). Vấn đề ít khi thỉnh Chầu bé sang khăn vì có giai thoại về Chầu Bé quyên sinh do bị giặc hãm hại, vì thế khi ngài sang khăn áo thì Đồng Nhân gặp chuyện không vui trong tình duyên, làm ăn trắc trở,... cho nên thường thỉnh Chầu Bé về chứng Tiền Trăm Trầu Trình là chính.

2. Lễ, Mã tiến cúng trong lễ Trình Đồng mở Phủ

  • Bày đàn tràng: Hương, hoa, quả, nến, bánh kẹo, và các vật phẩm khác cúng tiến công đồng tiên thánh và đình thần tứ phủ.
  • Bày đàn tứ phủ để tiến lễ mở phủ không thể thiếu:
    • 4 Hũ nước 4 phủ: là 4 hũ đựng nước sạch, để thỉnh Tứ vị Vương Quan về Khai hồ mở phủ. Ý nghĩa - Nước sông Ngân Hà rửa sạch Đồng Nhân, Thanh tẩy Hồng Trần phụng sự thánh nhân
    • Trứng vịt lễ 4 phủ: mỗi phủ gồm 5 trứng hàng thủy cầm (thường là trứng vịt) - số 5 là đại diện cho ngũ phương, ngũ hành,... (giờ thì họ yêu cầu nam thì 7 trứng, nữ thì 9). Ý nghĩa là "Trứng rồng lại nở ra rồng" để cho Thanh đồng được hưởng Thánh ân.
    • Gương lược lễ 4 phủ: Mỗi phủ gồm 5 bộ gương lược. Ý nghĩa - Lược thì trải truốt xinh ra, gương thì soi tỏ nước da ngọc ngà.
    • Khăn mặt lễ 4 phủ: Mỗi phủ gồm 5 chiếc. Ý nghĩa - Lau cho mặt phấn da hường, để cho Đồng được muôn phần sáng tươi
    • Nước hoa lễ 4 phủ: Mỗi phủ gồm 5 lọ. Ý nghĩa - Mặt hoa da phấn thơm lừng, Tẩy uế phàm trần - hầu cận thánh nhân
    • Vở, bút lễ 4 phủ: Mỗi phủ 5 bộ. Ý Nghĩa - Quan về Truất bút phê chương, nhận Đồng Chấm Lính tấu chương rõ ràng
    • Quạt lễ 4 phủ: Mỗi phủ gồm 5 quạt. Ý nghĩa - Mở quạt quạt mát cho Đồng, Quạt cho yên lặng bão giông cuộc đời
    • Hạt Ngũ Cốc 4 phủ: Mỗi phủ gồm 5 bộ, mỗi bộ gồm 5 túi (đĩa, bát,...) đựng 5 loại Hạt giống (thóc, ngô, đỗ, lạc, vừng,...- tùy theo từng vùng). Ý nghĩa - Quan về cấp thực cho Đồng, Ấm lo sung túc ruộng vườn tốt tươi.
    • Ngoài ra, trên mâm cũng có thể dâng một số lễ khác: Chè, Thuốc lá, bật lửa,...
  • Khăn áo bản mệnh của Tân Đồng
  • Lễ mặn cúng trong pháp sự:
    • Xôi: Ngọc thực - nuôi sống cõi nhân gian, đại diện cho vật phẩm của nhân sinh - Địa
    • Gà trống: giống chim phượng - đại diện cho vật phẩm của trời - Thiên
    • Thịt lợn hoặc đầu lợn: đại diện cho vật phẩm núi rừng - Nhạc
    • Vịt hoặc ngan: có nơi dùng cá hoặc thủy cầm - đại diện cho vật phẩm của sông nước - Thủy
  • Đàn mã: Ngựa Phát tấu, hình nhân thế mệnh, ngựa, voi, tòa sơn trang, tam đầu lốt,... tùy thuộc vào điều kiện của Tân đồng tiến biếu sao cho đầy đủ
    • 4 hình nhân thế mệnh về 4 phủ
    • 5 ngựa dâng 5 vị Quan lớn
    • 1 ngựa, 1 voi, 1 thuyền rồng, 1 tòa chúa sơn lâm sơn trang (có đủ bộ động sơn trang, hải sảo, 12 cô): Dâng về Thiên địa thủy và sơn trang
    • Lốt tam đầu: Dâng về Quan Tuần Tranh. Ý nghĩa về sức mạnh của Quan Tuần Tranh, sát quỷ trừ tà.
    • Tiền Vàng, vàng nén đủ lễ tứ phủ, ngũ vị vương quan, Tam vị thánh hoàng, các cô, cậu
    • Ngoài ra, Tân Đồng có điều kiện thì tiến biếu các cung các sở khác
    Về vấn đề mã, ngày nay do điều kiện kinh tế phát triển, đã phát sinh ra nhiều mã khác, thôi thì đó là tùy tâm, tùy điều kiện của mỗi Tân Đồng.
  • Ngoài ra, còn tiến biếu các lễ khác tại các ban thờ khác nếu có: hạ ban, trần triều,...
Ảnh bài viết
Avatar
20/05/2026 15:26:29 - Công Khai
TÔN NHANG BẢN MỆNH

Tôn nhang bản mệnh là một cụm từ nói tắt của việc "Tôn cấp lập thờ lô nhang thánh cai bản mệnh", việc nói tắt này đã dẫn đến nhiều người hiểu sai lệch về ý nghĩa của lễ nghi là lễ nghi thờ chính mình. Tôn nhang bản mệnh là lễ nghi "Tôn thờ thánh bản mệnh" trong tín ngưỡng thờ Mẫu. Những người có căn duyên đối với tín ngưỡng thờ Mẫu mới phải làm nghi lễ này, có 2 trường hợp người căn duyên bản mệnh với Tứ Phủ:

  1. Trường hợp 1: Tôn nhang bản mệnh xin được an mệnh, lô nhang bản mệnh được gửi tại công đồng tứ phủ (thường là cửa điện thờ tứ phủ) mà không phải mở phủ.
  2. Trường hợp 2: Tôn nhang bản mệnh trước khi trình đồng mở phủ làm để bước vào việc Hầu đồng

Không phải hai người cùng sinh ngày tháng năm đều có căn thâm số nặng để phải tôn trình bản mệnh, Điều này còn phụ thuộc vào mối quan hệ giữa cá nhân với gia tiên, giữa gia tiên với tiên thánh và phần lớn là số mệnh đã định của bản thân. Tuy nhiên, thánh cai bản mệnh thì lại theo Lục Thập Hoa giáp năm sinh của người căn duyên là nam hay nữ. Để xác định được người có căn thâm số nặng như thế nào, có thể dựa vào thuật soi bói, thuật nhìn tướng, một số trường hợp có thể sử dụng thuật xem tử vi, để kỹ hơn đôi khi có thể sử dụng cả 3 thuật đó.

Tôn nhang bản mệnh làm ở đâu?

Như đã nói ở trên, đây là nghi lễ của tín ngưỡng thờ Mẫu, vì vậy việc tôn nhang bản mệnh là tiễn lễ Tôn cấp lập thờ lô nhang thánh cai bản mệnh cho nên phải được thực hiện tiến lễ tại phủ hoặc điện thờ Tứ Phủ.

  • Người có căn mệnh thuộc trường hợp 1, chỉ cần thỉnh mởi pháp sư thảo sớ, tôn cấp lô nhang thánh bản mệnh và tiến lễ pháp sự trình căn bản mệnh tại bản điện là được, tuy nhiên nếu được thủ nhang hầu thánh để chứng thì càng tốt, việc này còn phụ thuộc vào điều kiện của chủ lễ. Thông thường những người đã phải tìm đến thánh để xin lễ bản mệnh là những người không có điều kiện, vì vậy chỉ cần tiến lễ theo pháp sự là được. Ngày rằm, mùng một hoặc ngày lễ, Chủ lễ nên có lễ (theo điều kiện từng người) thành tâm đến bản điện dâng lễ cầu an bản mệnh.
  • Người có căn mệnh thuộc trường hợp 2, thì ngoài việc pháp sư thảo sớ, tôn cấp lô nhang thánh bản mệnh, theo lối cổ thì sau bách nhật (còn ngày nay thì họ làm luôn) thủ nhang (có ít nhất 9 năm tuổi Đồng) tiến hành lễ mở phủ cho chủ lễ, sau lễ mở phủ thì chủ lễ đã tiến vào tín ngưỡng thờ mẫu và hầu đồng được gọi là tân đồng, khi đó phải tuân theo các quy tắc lễ nghi của Tứ Phủ.

Nghi lễ tôn nhang bản mệnh như thế nào?

Cả 2 trường hợp, đều phải tôn cấp lô nhang, nên việc tiến lễ đều có điểm chung là thỉnh mới pháp sư thực hiện các việc:

  • Thảo sớ trình bản mệnh, nếu phải mở phủ thì thảo thêm các sớ hầu mở phủ
  • Viết dị hiệu thánh cai bản mệnh và tiến hành tôn lập lô nhang.
  • Tiến lễ Tam - Tứ Phủ, tấu sớ trình căn bản mệnh.

Trong nghi lễ pháp sự, thủ nhanh trùm khăn phủ diện lên đầu chủ lễ và đội mâm lễ có lô nhang khi pháp sư tấu sớ và làm nghi lễ liên quan để thể hiện sự thành kính phụng thờ thánh cai bản mệnh của mình.

  • Trường hợp có nghi lễ hầu thỉnh thánh chứng lễ trình căn (không phải mở phủ) thì sau pháp sự của pháp sư là nghi thức hầu chứng của Thủ nhang.
  • Trường hợp Người tôn nhang bản mệnh phải mở phủ, theo lệ cổ thì sau bách nhật tôn bản mệnh thì Thủ nhang mới tiến hành nghi lễ mở phủ. Lý do cơ bản sau 100 ngày tân đồng có đủ thời gian để tìm hiểu về các nghi thức trong tín ngưỡng thờ Mẫu và nghi thức Hầu Đồng, và đặc biệt là có đủ thời gian để làm trong sạch bản mệnh trước khi mở phủ. Ngày nay, nghi lễ này được gói gọn trong 1 khóa lễ nghĩa là sau pháp sự tôn nhang xong là Thủ Nhang tiến hành nghi lễ hầu đồng mở phủ cho tân đồng.

Sau khi tấu sớ bạch văn trình bản mệnh, lô nhang được rước lên công đồng để thờ, kể từ đây người mới tôn nhang trở thành Hương tử của bản điện, có điều kiện thì nên đi trình diện các phủ đền để trình sớ văn.

Ảnh bài viết
Avatar
20/05/2026 15:24:56 - Công Khai
NGHI LỄ HẦU ĐỒNG

1. Nghi lễ trước khi Hầu Đồng

Trước khi thực hiện nghi lễ Hầu Đồng, Người đứng giá Hầu Đồng (trong bài viết này gọi là Thanh Đồng) sẽ thỉnh mời pháp sư thảo sớ văn, tiến cúng Tam phủ Công Đồng, Tứ Phủ Vạn Linh, tấu sớ xin được Hầu Thánh. Sau nghi lễ này, Thanh Đồng mới được phép tiến hành nghi lễ Hầu Đồng. Chú ý, Đây là nghi lễ pháp sự phải do Pháp sư thực hiện, Thanh Đồng không được phép thực hiện.

2. Các thành phần tham gia

Hầu đồng, hay còn gọi là hầu bóng, đồng bóng là một nghi thức trong hoạt động tín ngưỡng thờ Mẫu. Về bản chất, đây là nghi thức giao tiếp với thần linh thông qua Đồng Nhân thông quan việc tỉnh mời các vị thần khác nhau giáng ngự Đồng (nhập vào xác Đồng Nhân). Người ta tin rằng các vị thần linh có thể nhập hồn vào thân xác các Đồng Nhân nhằm phán truyền, diệt trừ tà ma, chữa bệnh, ban phúc, ban lộc cho các con nhang, đệ tử. Khi thần linh nhập vào đồng thì lúc đó các ông đồng, bà đồng không còn là mình nữa mà là hiện thân của vị thần nhập vào họ. Đây là một nghi thức không thể thiếu trong tín ngưỡng Thờ Mẫu Tứ Phủ, nhất là các hoạt động nghi lễ lớn của tín ngưỡng Tứ Phủ. Các thành phần tham gia trong nghi lễ này gồm có:

  • Thanh Đồng: Người đứng giá hầu đồng
  • Hầu Dâng: Có 4 người hoặc 2 người giúp việc trong nghi lễ: Thay y phục các giá, chuẩn bị lễ,... Có 4 người thì gọi là Tứ Trụ; Có 2 người thì gọi là Tay Quỳnh Tay Quế; Không sử dụng 1 hay 3 người trong hầu dâng.
  • Cung văn: âm nhạc trong nghi lễ hầu đồng, mỗi giá hầu đồng có 1 nhạc văn khác nhau để tán dương về thần tích, thân thế và thần uy của Thánh giá đang ngự Đồng.
  • Cử tọa: là những người ngồi xem Hầu, những người này thường là con nhang đệ tử, trong lúc xem hầu thường thể hiện lòng tôn kính các vị thánh mỗi khi giáng ngự và hòa theo điệu múa hát, được hưởng lộc khi Thánh ngự đồng.

3. Nghi thức Hầu Đồng

Trong khi tứ trự chuẩn bị lễ và trang điểm cho Thanh Đồng chuẩn bị nghi lễ Hầu Đồng, Cung văn hát thỉnh Hội Đồng tiên thánh, Khi Thanh Đồng chuẩn bị xong, nếu là Tân Đồng (tức là vẫn là 3 năm thử Đồng) thì Đồng Thày sẽ đội khăn phủ diện lúc đầu tiên bước vào Hầu cho Thanh Đồng. Nếu là đã tạ lễ 3 năm đồng thì có thể tự Phủ khăn phủ diện khi bắt đầu Hầu Thánh. Ứng mỗi giá thỉnh, Cung văn sẽ có Văn nhạc riêng tùy thuộc vào Thánh giá có ngự Đồng Hay không, nếu không ngự Đồng thì sau văn thỉnh sẽ "Xe loan giá hồi cung", Nếu Thánh được thỉnh về Ngự giáng Thanh Đồng thì sẽ được Tung khăn phủ diện. Thứ tự hầu thánh như sau: Thỉnh Mẫu: Đây là 3 giá thỉnh Mẫu đứng trong Tam Phủ

  1. Đệ Nhất Thiên Tiên, Thanh Vân Công chúa Thượng Thiên mẫu giáng Trần
  2. Đệ Nhị thánh tiên, Nhan sắc khác thường hình dong, giá danh đòi một khuê hương khôn bì
  3. Đệ Tam Thánh Tiên, Xích lân thần tử mẫu ngự đền Thoải Cung

Đây là 3 giá đầu tiên khi vào Hầu, Mẫu không giáng Đồng nên các Thanh Đồng không được tung khăn phủ diện. Hiểu một cách đơn giản đây là nghi thức trong tục thờ Mẫu, Các Mẫu là người đứng đầu các phủ, có thứ tự đệ nhất, nhị tam, nhưng không phải là thứ tự về ngôi vị, mà là thứ tự chỉ dẫn đồng vị trong ngôi Mẫu để dễ phân biệt, Vì vậy, Mẫu không phải ngự đồng rồi Hầu dâng Hội Đồng Tứ Phủ Thánh. Thỉnh hầu các giá ngự đồng tiếp sẽ theo thứ tự:

  • Nếu Vấn Hầu Khánh Hội (nghĩa là hầu xin lộc): thì thứ tự hầu thánh Thông thường là: Nhà trần, Vương Quan, Chúa Bà, Chầu Bà, Quan Hoàng, Cô, Cô bé, Cậu bé.
  • Nếu Vấn Hầu Mở Phủ: Đây là nghi lễ của Tứ Phủ, nên các vấn hầu Thánh ngoài tứ phủ sẽ được hạn chế, nếu có thỉnh Hầu thì sẽ được thỉnh Hầu Trước hoặc sau khi thỉnh hầu Hội Đồng Thánh Tứ phủ (tùy theo ngôi vị) về làm việc. Thứ tự thông thường sẽ là: Nhà Trần, Các chúa bà bản cảnh (ví dụ như chúa thác,...), Vương Quan, Chầu Bà, Tứ phủ Quan Hoàng, Tứ phủ thánh Cô, Cô bé, Cậu bé.
  • Vấn Hầu khác: Là vấn hầu có thỉnh Thánh ngự về đồng làm việc, các thứ tự hầu thánh theo thứ tự Ngôi vị, hoặc tương đương.

Tuy nhiên, một số nơi vẫn giữ lối hầu một trong hai thứ tự trên trong các buổi làm việc của Tứ Phủ. Việc hầu Thánh không nằm trong tứ phủ trước không có ý nghĩa về mặt thứ tự ngôi vị, mà đây là buổi làm việc của Tứ Phủ thì được hiểu theo ý nghĩa là "Tiền Khách" hậu "Chủ nhà", đây cũng là nét đẹp hiếu Khách của Người Việt Nam được áp dụng trong đời sống vào nghi lễ Hầu Thánh.Các nghi thức khi thánh giá Ngự Đồng:

  1. Cung văn dâng văn tán dương công đức, thần uy của Thánh giá.
  2. Hầu dâng Lên khăn áo ứng với giá Thánh ngự Đồng
  3. Thánh giá tiến hành nghi lễ Tế Công Đồng
  4. Thánh giá tiền hành nghi thức Khai Quang (Nam Thánh thì khai quang bằng Đuốc, Nữ thánh khai quang bằng mồi)
  5. Thánh giá tiền hành nghi thức chứng lễ, và các nghi lễ khác (nếu Vấn Hầu thỉnh mời thánh về làm việc)
  6. Nghi thức tiếp theo thì phụ thuộc vào Thánh giá ngự đồng:
    • Thánh giá võ tướng.
      • Nam Thánh giá hàng Vương (bao gồm cả ngũ vị Vương Quan): Múa Đao, kiếm, cờ
      • Nữ thánh giá võ tướng (như chầu mười, chầu bát, vương cô,...): Múa cờ, kiếm
      • Thánh Hoàng: múa cờ, kiếm, hèo, quạt.
      • Thánh cậu: múa cờ, kiếm, hèo, lân.
      Ban Lộc khi an tọa
    • Nữ Thánh giá không thuộc võ tướng thì múa mồi, quạt, chèo thuyền (thoải phủ), múa tay không tùy theo từng giá. - Nữ thánh giá thượng ngàn: Ban lộc trong lúc múa (tung tiền) - ý nghĩa là lộc thánh ở trên thượng ngàn nhiều như lá, các đệ tử hầu hạ sẽ được ấm lo. - Nữ thánh giá khác vẫn ban lộc khi an tọa.
  7. Nghi thức phán truyền: nghi thức này thực hiện khi thánh giá an tọa
    • Đối với thánh giá là Đức Ông Trần Triều, Các Vương quan thì pháp sư phải thượng tấu Sớ Văn
    • Đối với thánh giá khác thì Đồng Thầy (hoặc Tứ Trụ) tấu văn thỉnh lễ
    Sau khi nghe tấu văn thỉnh lễ, Thánh giá phán truyền, ban thưởng cho Thanh Đồng, Đồng Thày, Pháp sư, Tứ trụ và Cử Tọa.
  8. Thánh giá ngồi nghe văn Tán dương, thưởng ngoạn trà, tửu, và các lễ hầu dâng khác, ban thưởng cung văn rồi "Xe loan thánh giá hồi cung"
Ảnh bài viết

TuTap.vn - miễn phí trọn đời.
Người tạo: Nguyễn Mạnh Tuyên - Hà Nội



Trang chủ
Bản đồ
Xem Ngày
Đọc Kinh
Cá Nhân
Menu
🎵 Chưa phát bài
📁 Danh sách: Danh sách 1 ▶ Trạng thái: Tạm dừng