Cộng Đồng TuTap.vn

Bài viết từ nhiều thành viên

Gợi ý kết bạn
a1a2a3a3a311
mantnguyen
akhrhum
manh
team123aaas
huyokamichan82
nguyen
dongnhanmy
ngthithanhtruc105
1skhongphai1a
1la12la2ddd

Văn khấn lễ Thành phục

Khấn khi gia đình thân nhân mặc xong tang phục đúng quanh linh cữu ở nhà tang lễ hoặc gia đình

Na mô A Di Đà Phật!(3 lần)

Hôm nay: ngày.... tháng... năm.

tức là năm thứ!)

nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tại: Nhà tang lễ Phùng Hưng số 125, phường Cửa Đông - Quận Hoàn Kiếm - Hà Nội)

Tín chủ (Con trai trưởng) là.......... vaang theo lệnh Mẫu thân (hoặc Phụ thân)..........cùng các cô chú bác cùng anh chị em dâu rể con cháu nội ngoại.

Kính lạy:......

Hoàng Thiên Hậu Thổ, Chư Vị Tôn Thần Các Ngài Thần Linh cai quản trong xứ này Hiền Khảo (mẹ thì khấn Hiền Tỷ) thọ chung ngày ..... tháng.....năm....thọ...tuổi

Nay đồ tang phục gia đình đã mặc xong là lễ thành phục của cố phụ (cố mẫu)............., gia đình chúng con kính cẩn sắm lễ thanh bông hoa quả, tiền vàng, lễ mọn lòng thành kính dâng.

Trước linh vị của Cố phụ xin kính trình thưa rằng:

Mây che núi Hổ muôn dặm mơ màng

Gió thổ cành Thung  một vùng nghi ngút.

Nhớ mới đây, một nhà sum họp, vui vầy những ước đặng trăm năm.

Mà bây giờ, đôi ngả cách xa, nông nỗi nào ngờ nên một phút.

Ơn chín chữ, trời cao biển rộng, hiềm chưa chút công đền trả nghĩa, gánh cương thường, nghĩa nặng trên vai.

Giờ đây chúng con than vắn thở dài, lòng tưởng nhớ thấm đau trong ruột.

Thành phục gọi là manh áo trở, lễ tạm tòng nghi Suốt đời khôn tỏ môi tình thương, nghĩ càng thêm đau.

Nay vừa chế phục sẵn rồi, bày đặt tang nghi theo lệ, gậy khăn tuân cứ lối thường, thành phục kính dâng điển tế.

Cẩn cáo

Chú thích: 

(*) Tuổi của nước CHXHCN Việt Nam từ 1945 đến nay.

Núi Hổ là cha, mẹ mất thì kêu là núi Dĩ

Cánh thung là cha, mẹ mất thì kêu là cành Huyên.

Văn khấn khi dọn vào ở

(Còn gọi là phần sài hoặc quy hỏa, tức là bắt đầu dọn vào ở, đun bếp tại nhà khi mới làm hoặc sửa chữa xong, nếu nhà có bàn thờ Phật thì cúng Phật trước).

Na mô A Di Đà Phật!(3 lần)

Kính lạy:

  • Hoàng thiên Hậu Thổ chư vị tôn Thần.

  • Các ngài Thần linh bản xứ cai quản trong khu vực này.

Hôm nay là ngày... tháng... năm...

Tín chủ con là.....

Ngụ tại:.....

Thành tâm sửa biện hương hoa lễ vật và các thứ cúng dâng bày lên trên án, trước bản tọa chư vị tôn thần kính cẩn tâu trình:

Các Ngài thần linh thông minh chính trực, giữ ngôi tam thai, nắm quyền tạo hóa, thể đức hiếu sinh của trời đất, phù hộ dân lành, bảo vệ sinh linh, nêu cao chính đạo.

Nay gia đình chúng con hoàn tất công trình, chọn được ngày lành dọn đến cư ngụ, phần sài nhóm lửa, kính lễ khánh hạ cầu xin chư vị minh thần, gia ân tác phúc, độ cho gia quyến chúng con an ninh, khang thái, làm ăn tiến tới, tài lộc dồi dào. Người người được chữ bình an, xuất nhập hưởng phần lợi lạc. Cúi mong ơn đức cao dày, thương xót, phù trì bảo hộ.

Tín chủ lại mời các vong linh tiền chủ, hậu chủ ở trong nhà này, đất này, xin cùng về đây chiêm ngưỡng tôn thần, thụ hưởng lễ vật, phù trì tín chủ thịnh vượng, an khang. Bốn mùa không hạn ách nào xâm, tám tiết có điều lành tiếp ứng.

Giãi tấm lòng thành, cúi xin chứng giám.

Cẩn cáo

VĂN KHẤN TỔ TIÊN

(NGÀY TẾT CƠM MỚI)

Nam mô A Di Đà Phật! (3 lần)

  • - Con lạy chín phương Trời, mười phương Chư Phật, Chư Phật mười phương.

  • - Con kính lạy Hoàng Thiên, Hậu Thổ, chư vị Tôn thần.

  • - Con kính lạy ngài Bản cảnh Thành Hoàng, ngài Bản xứ Thổ Địa, ngài Bản gia Táo Quân cùng chư vị Tôn thần.

  • - Con kính lạy Cao Tằng Tổ khảo, Cao Tằng Tổ Tỷ, các hương linh họ nội họ ngoại.

Tín chủ chúng con là:....

Ngụ tại:......

Hôm nay là ngày mồng Một (mồng Mười Rằm) tháng Mười là ngày Tết Cơm Mới, tín chủ con thành tâm sắm lễ hương hoa, trà quả, nấu cơm gạo mới, thắp nén hương thơm dâng lên trước án.

Trộm nghĩ rằng:

Cây cao bóng mát

Quả tốt hương bay

Công tài bồi xưa những ai gây dựng
Của quý hóá nay con cháu hưởng
Ơn Trời Đất Phật Tiên, chư vị Tôn thần
Sau nhờ ơn Tổ tiên gây dựng, kể công tân khổ biết là bao
Đến nay con cháu dồi dào, hưởng miếng trân cam
Nay nhân mùa gặt hái

Gánh nếp tẻ đầu mùa

Nghĩ đến ơn xưa

Cày bừa vun xới,
Sửa nồi cơm mới

Kính cẩn dâng lên

Thường tiên nếm trước

Mong nhờ Tổ phước

Hòa cốc phong đăng

Thóc lúa thêm tăng

Hoa màu tươi mới

Làm ăn tiến tới

Con cháu được nhờ

Lê tuy đơn sơ

Tỏ lòng thành kính.

Chúng con kính mời ngài Bản cảnh Thành Hoàng chư vị Đại Vương, ngài Bản xứ Thần linh Thổ Địa, ngài Bản gia Táo Guân, Ngũ Phương, Long Mạch, Tài thần. Cúi xin các Ngài giáng lâm trước án chứng giám lòng thành, thụ hưởng lễ vật.

Giãi tấm lòng thành cúi xin được phù hộ độ trì và chứng giám.

Nam mô A Di Đà Phật (3 lần, 3 lạy)

Cẩn cáo!

Yên Căn - Yên Mệnh - Yên Sổ Thiên Đình

Trước khi tìm hiểu “Yên Căn Yên Mệnh” chúng ta cần biết người như thế nào thì được gọi là chưa yên căn yên số:

Những người chưa yên căn yên số là Những người Yên Căn Yên Mệnh chưa trình đồng mở phủ và vẫn đang trong vòng nghiệp quả chưa được khai thông. Tùy vào mỗi người họ có thể gặp phải các cơ hàng khác nhau, cơ tiền, cơ tâm cơ tình, cơ sức khỏe. Những người Yên Căn, Yên Mệnh vẫn thấy cuộc sống không ổn định đảo điên cảm thấy không vui tươi và lo lắng không hiểu vì sao. Họ thường xuyên mơ thấy mình đi lễ đền gặp ma quái hoặc bị ốp bóng gặp bóng của các linh hồn hay vong linh. 

Những người đã mở phủ nhưng chưa yên căn yên số: 

Mặc dù đã mở phủ nhưng cuộc sống của họ vẫn chưa ổn định. Họ cảm thấy bối rối hoang mang và mất cân bằng. Những người Yên Căn Yên Mệnh có thể mơ thấy mình đang đi hầu đi lễ nhưng vẫn cảm thấy không an tâm không hiểu được lý do tại sao. Họ có thể gặp phải những triệu chứng bất an như cảm giác mất kiểm soát lo sợ và thấy cuộc sống không rõ ràng.

Tại sao những người đã ra trình đồng mở phủ mà vẫn chưa yên căn yên số?

Có thể có một số lý do sau đây:

Vấn đề từ thầy đồng

Nếu thầy đồng không đủ tâm đủ tài hoặc chưa thực sự hiểu rõ về con đường đạo có thể dẫn đến việc không mở phủ thông suốt cho con đồng. Những người không được thầy đồng hướng dẫn đúng cách có thể gặp phải các vấn đề trong việc ổn định căn mệnh.

Sự cố từ bản thân đồng nhân

Một số đồng nhân có thể bị xoáy tâm dẫn đến tâm thần bất ổn lo âu và đôi khi có thể là vì tham muốn quá lớn (như mong cầu lộc tài nhân duyên) mà quên mất mục đích tu hành là để tự tu tập sám hối và trả nghiệp.

Ảnh hưởng từ Tà Ma Ngoại Đạo

Một số đồng thầy theo tà ma ngoại đạo có thể ảnh hưởng đến quá trình mở phủ khiến cho con đồng không thể yên mệnh yên số.

Cách Làm Thế Nào Để Yên Căn Yên Số

Để yên căn yên số mỗi người cần không ngừng học hỏi tu đạo và tự mình giải quyết các khúc mắc trong tâm. Để làm được Yên Căn Yên Mệnh cần phải giữ cho tâm mình trong sáng kiên định và không bị dao động bởi thị phi hay những ảnh hưởng bên ngoài. Một khi tâm đã ổn định bạn sẽ không còn bị quấy nhiễu bởi các thế lực xung quanh.

Như nào mới gọi là yên căn yên mệnh yên sổ thiên đình?
Câu này thuộc ngôn ngữ tâm linh trong tín ngưỡng thờ Mẫu và đạo đồng thầy. Mình giải thích rõ để bạn dễ hiểu nhé:
1. Yên căn
“Căn” ở đây là căn đồng số lính – tức là duyên nghiệp tâm linh mỗi người mang từ kiếp trước.
Yên căn nghĩa là người đó đã được “an định” căn số, không còn bị hành căn, không còn lạc lối giữa việc có theo hay không theo.
Người yên căn thường đã ra trình đồng mở phủ (nếu đúng duyên) hoặc đã tu tập chuyển hóa để căn số không còn quấy phá.
2. Yên mệnh
“Mệnh” là đường đời, số phận.
Yên mệnh tức là số mệnh đã được an bài, không bị long đong dở dang, không bị nghiệp căn số cản trở.
Người yên mệnh thường có cuộc sống dần ổn định, công việc và gia đình hanh thông, tâm an, thân an.
3. Yên sổ Thiên đình
“Sổ Thiên đình” tức là “sổ mệnh trời ghi” – trong tín ngưỡng cho rằng ai ra trình đồng mở phủ thì có tên trong sổ nhà Trời.
Yên sổ Thiên đình nghĩa là việc căn số, mệnh số của người đó đã được Thiên đình định an, không còn tranh chấp hay phải sửa đổi nhiều. Người này coi như đã “an vị” trong hàng ngũ của cửa Thánh, chỉ còn lo tu tâm dưỡng tính, làm việc thiện.
Nói gọn:
Yên căn: căn số được an định.
Yên mệnh: số mệnh được hanh thông.
Yên sổ Thiên đình: tên tuổi, căn mệnh đã được ghi và an bài trong sổ trời.
Nói cách khác:
=>Tức là đã tu tập hành thiện đã trải qua sự thử thách khốc liệt khổ sở trong cuộc sống,bắt đầu giác ngộ, không còn sợ gì nữa,không còn ảo tưởng ta là vị Phật nọ, vị Thánh kia,mà tự mình là" chính mình",không còn nóng tính,tính cách chở lên ôn nhu,nhẹ nhàng,ăn nói không thô tục ,có kiến thức sâu về nhân sinh và cuộc sống Không bạ đâu bói đó, bạ đâu soi đó,phải đến bản điện giống như cơ quan làm việc tâm linh của các ngài,đầu tiên các bạn phải mang đầu về trình bái, sau đó xa sôi thì có thể chuyền đạt thông tin qua điện thoại, nhưng vẫn phải đến điện phủ đền làm lễ,không được quảng cáo,soi bói về tâm linh,vì tất cả là do" duyên",nếu người đến bói không phải là nhân "duyên" mà bạn được giúp,mà tâm bạn khởi tham,muốn giúp họ để có tiền,vì danh vì diện,vì hư vọng,thì chắc chắn sẽ nhận lại nghiệp quả và thị phi ,ốm đau của người đó,và bản thân người đó, cũng không biết để giác ngộ,vì bản thân họ phải trải qua trả nghiệp
 thì bạn đã can thiệp vào nhân quả
 đã giúp họ rồi .
lên họ chưa hiểu sâu và không biết hỗi lỗi để tự tu sửa bản thân mình.
Ý nghĩa của Yên căn – Yên mệnh – Yên sổ Thiên đình
Yên căn
Người đã trải qua thử thách, gian khổ, không còn bị hành căn dữ dội.
Bắt đầu giác ngộ: hiểu nhân quả, sống ôn nhu, nhẹ nhàng, không nóng nảy, không thô tục.
Biết mình chỉ là “một con người” đang tu tập, không ảo tưởng mình là Phật, Thánh.
Yên mệnh
Cuộc sống dần ổn định, công việc, gia đạo hanh thông hơn.
Sống có đạo đức, làm thiện, nói năng từ tốn, cư xử đúng mực.
Có tri thức về nhân sinh, biết đâu là duyên, đâu là nghiệp, không chạy theo tham sân si.
Yên sổ Thiên đình
Người đã được “an danh” trong cửa Thánh, giống như một viên chức làm việc đúng cơ quan, đúng bổn phận.
Việc tâm linh phải có nơi chốn (bản điện, đền phủ) để làm việc. Xa thì có thể liên lạc, nhưng vẫn phải về cửa Thánh để làm lễ.
Không tự ý quảng cáo, soi bói bừa bãi. Vì việc tâm linh là duyên, không phải thương mại.
Nếu giúp người không đúng duyên, vì tiền hay danh diện, thì bản thân thầy sẽ mang nghiệp, còn người được giúp cũng chẳng giác ngộ, bởi họ cần tự trả nghiệp.
Nói gọn:
Người yên căn – yên mệnh – yên sổ chính là người đã đi qua sóng gió, biết quay về tu tập, hành thiện, sống khiêm nhường, không phô trương, không vì danh – vì lợi, mà làm việc tâm linh đúng duyên, đúng luật nhân quả

 #tinnguongthomau 

Ảnh bài viết
CÁT HUYỀN THIÊN SƯ THÁNH ĐẢN

     Cát Thiên Sư – Cát Huyền là một trong Tứ Đại Thiên Sư của Đạo giáo. Tiên sinh cùng ba vị Trương Đạo Lăng, Hứa Tinh Dương, Tát Thủ Kiên thường túc trực Thông Minh Điện, phụ tá Ngọc Hoàng. Cát Thiên Sư sinh nhằm năm 164 đất Cú Dung, Đan Dương, tự là Hiếu Tiên. Lão Quân thân thụ Cát Huyền ba mươi sáu bộ tôn kinh, về sau Cát tiên sinh lập Linh Bảo Phái, được tôn xưng là Các Tạo Tông Tổ sư. Chính nơi Các Tạo Sơn, tiên sinh tu tập Thái Thanh Đan Kinh, Hoàng Đế Cửu Đỉnh Thần Đan Kinh, sau lại thường xuyên tinh cẩn hành trì Thượng Thanh Kinh và Linh Bảo Kinh, truyền lại cho các đệ tử lấy nhị bộ tôn kinh này làm trọng yếu.
     Trong hệ thống truyền thừa được ghi lại nơi các kinh điển Linh Bảo cổ, Cát Huyền thiên sư ngoài truyền kinh cho Trịnh Tư Viễn và Tôn Quyền, còn truyền pháp cho hai vị sa môn Phật giáo là Thích Đạo Vi và Trúc Pháp Lan. Tập san Nghiên cứu Văn triết Trung Quốc số 34 của Viện Nghiên cứu Văn triết Trung Quốc, Viện Hàn lâm Trung ương có bài nghiên cứu “Thái Cực Ngũ Chân Nhân Tụng” của Tạ Thế Duy, đã trích lại Linh Bảo Uy Nghi Kinh Quyết - quyển thượng, có đoạn: “Thái Cực Chân Nhân tên gọi Từ Lai Lặc, vào chính ngọ ngày mùng Một tháng Giêng năm Kỷ Mão, đã truyền đạo cho Thái Cực Tả Tiên Công là Cát Huyền, tự Hiếu Tiên, tại núi Thượng Ngu thuộc Hội Kê. Cát Huyền sau đó tại núi Thiên Đài đã truyền cho các đệ tử là Trịnh Tư Viễn, sa môn Trúc Pháp Lan, Thích Đạo Vi và Tôn Chuy (tức Tôn Quyền), cháu của Ngô Tiên Chủ” (xem thêm trong Đôn Hoàng Đạo Tạng).
Thích Đạo Vi không được ghi chép lại trong sử sách, tuy nhiên với Trúc Pháp Lan, theo nghiên cứu của Vương Thừa Văn, ông có liên hệ với Chi Khiêm - một dịch giả kinh Phật thời Tam Quốc Đông Ngô. Dựa trên “Xuất Tam Tạng Ký Tập”, Chi Khiêm vào năm 241 rời Kiến Nghiệp, ẩn cư Khung Ải sơn, từ chỗ của Trúc Pháp Lan học thêm về Ngũ giới. Do đó, Trúc Pháp Lan là tăng sĩ Phật giáo hoạt động vào thế kỷ thứ 3, có khả năng đã truyền giới cho Chi Khiêm. “Phá Tà Luận” của Thích Pháp Lâm đầu thời Đường có dẫn kinh “Tiên Nhân Thỉnh Vấn Chúng Thánh Nan Kinh” trong đó nói ngoài Thích Đạo Vi, Trúc Pháp Lan, Trịnh Tư Viễn, thì Cát Huyền còn một đệ tử tên Trương Thái. Trong đó, hai người Thích Đạo Vi và Trúc Pháp Lan phát nguyện làm sa môn tăng sĩ, còn Trịnh Tư Viễn và Trương Thái phát nguyện làm đạo sĩ.
     Từ đó có thể thấy, các bản cổ kinh Linh Bảo đã đưa cả tăng sĩ Phật giáo vào hệ thống truyền thừa của mình. Dòng truyền thừa này không được đề cập trong chính sử hay trong Bão Phác Tử, có thể là quan điểm đặc thù của các bản cổ kinh Linh Bảo thuộc hệ phá Tiên Công, trong đó Trúc Pháp Lan – là thầy của một dịch giả kinh Phật có ảnh hưởng lớn như Chi Khiêm – được xếp vào hàng đệ tử được Cát Huyền trực tiếp truyền dạy, điều này mang ý nghĩa biểu tượng đặc biệt. Nếu xét kỹ thân phận của các đệ tử được truyền thụ này, ta có thể thấy: Thích Đạo Vi và Trúc Pháp Lan đại diện cho sa môn Phật giáo Đại thừa; Trịnh Tư Viễn và Trương Thái đại diện cho đạo sĩ Đạo giáo; Tôn Quyền đại diện cho vị vua của thế quyền. Như vậy, Cát Huyền - người truyền pháp cho các đại biểu thuộc ba giới (Phật, Đạo và tục), đã trở thành một vị tông sư kết hợp cả Phật giáo và Đạo giáo, đồng thời bao trùm cả hai phương diện tâm linh và thế gian.
     Trong các bộ Đạo tạng, Cát Tiên Ông thường được nhắc đến, nhất là các kinh văn thuộc hệ phái Linh Bảo. Tại bộ Thái Thượng Đỗng Huyền Linh Bảo Bản Hạnh Nhân Duyên Kinh còn lưu lại cố sự rằng vào năm thứ ba niên hiệu Xích Ô, năm Canh Thân, ngày Nhâm Tý vào mồng một tháng Giêng, Tiên công lên núi Lao Thịnh, trai giới tĩnh toạ, chuyên tâm niệm Đạo. Bấy giờ giữa trưa, có ba mươi vị Địa tiên đạo sĩ đến, dâng hương kinh lễ mà đi nhiễu quanh, đoạn xong Tiên công mời ngồi. Lúc sau có đạo sĩ đứng dậy hỏi rằng: “Chúng tôi học Đạo đã lâu, tích luỹ trải qua sáu trăm năm Giáp Tý, mà vẫn còn lang thang nơi núi rừng, chưa đạt quả vị. Sư tôn mới bắt đầu học Đạo, chẳng bao lâu may mắn được ban phong Thái Cực Tả Tiên Công, lên cõi Ngọc Kinh, vào điện Kim Khuyết, bái lễ Vô Thượng Hư Hoàng. Không rõ do nhân duyên nào từ trước, đã tạo công đức gì mà được thiên chức như vậy, đạt đến uy nghi như thế, khiến cả Bắc Phong Tam giới đều ngưỡng vọng. Xin Ngài khai thị nguồn gốc nhân duyên của tiền định ấy.”
Tiên Công bấy giờ ôn tồn đáp: “Các thầy đời trước học đạo, thụ kinh, làm thiện công rất ít, chỉ lo độ mình mà chẳng nghĩ độ người; chỉ tự cầu Đạo mà chẳng nghĩ đến giúp người khác đắc Đạo. Không tin lời Kinh văn hoằng viễn, không chuyên tâm trai giới, không tôn kính Tam Đỗng pháp sư, ưa thích các Tiểu thừa. Vì thế chỉ đạt được đạo Địa tiên, tuy được tự do xuất nhập, đi lại tự tại, sống lâu không chết, nhưng chưa thể siêu vượt Tam giới, du hành khắp mười phương, ngưỡng nhìn Ngọc Kinh Kim Khuyết của Thái Thượng mà thôi. Nếu muốn khiến pháp luân thăng nhanh, phi hành Thượng Thanh, thì phải lập thêm công lớn, cứu độ dân chúng khỏi tai họa và bệnh khổ, khi công đức lớn đầy đủ, Thái Thượng sẽ đích thân đến đón. Cho nên Bành Tổ sống tám trăm tuổi, An Kỳ Sinh một ngàn năm, Bạch Thạch Sinh ba ngàn tuổi, nhưng vẫn còn du hành giữa dân gian, đều vì đời trước học pháp công đức ít và mỏng. Lại có người sống hơn vạn tuổi nơi núi sông mà vẫn chưa thăng thiên, huống hồ các thầy chỉ mới mấy trăm tuổi, sao gọi là lâu được?”.
     Ngày mồng tám tháng Tư Nông lịch, Đạo giáo cung nghênh thánh đản Cát Huyền Thiên Sư. Nguyện Tiên Công từ bi phu hựu, cầu cho đạo chúng chí học Đại thừa, đều toại tiên chân: Chí tâm quy mệnh lễ; Thiên Đài đắc đạo, Các Tạo thành chân; Tích thụ Đông Hoa, phục chuyển Tây Thục; Chiếu mệnh Ngọc Kinh Kim Khuyết; Vị đăng Thái Cực Tiên Ban; Từ liên chửng bát vu trầm luân; Ân niệm phổ tư vu khổ sảng; Cát thiên thị di phong hiển trứ; Câu lậu lệnh đan sa câu tồn; Quát thương nhưng du; La phù nãi chi; Tu gian ngọc tứ; Tu lí kim thư; Đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ; Thái Thượng Ngọc Kinh, Đông Ngô Thái Cực Tả Cung Tiên Công; Lôi Đình Huyền Tỉnh, Thiên Cơ Nội Tướng; Ngọc Hư Từ Linh, Phổ Hoá Huyền Tĩnh, Thường Đạo Trùng Ứng Phu Hựu Chân Quân, Thuỳ Ân Nghiễm Cứu Từ Bi Đại Đế Độ Nhân Vô Lượng Thiên Tôn.
Theo Long Môn
 #cathuyenthiensu 

Ảnh bài viết
Người đã thích
Đang tải danh sách...