NGHI THỨC TRÌ TỤNG KINH Kinh Sách Tu Tập
(Dành cho hành giả tu tại gia)
I. Tiền Nghi: Khiết Tịnh & Trang Nghiêm
Trước khi bước vào đàn lễ, hành giả cần giữ cho "thân - khẩu - ý" được thanh tịnh:
Thân khiết tịnh: Tắm gội sạch sẽ, y phục chỉnh tề (nên mặc áo tràng lam hoặc cư sĩ).
Biến thông: Nếu Phật sự đa đoan, công việc bận rộn, hành giả tối thiểu phải súc miệng, rửa mặt, đôi tay sạch sẽ. Quan trọng nhất là gạt bỏ tạp niệm, giữ tâm ý nhẹ nhàng trước khi an tọa.
Đàn tràng: Chọn nơi yên tĩnh, lau dọn bàn kinh sạch sẽ. Nếu có bàn thờ Phật, hãy thắp đèn nến sáng sủa.
II. Pháp Sự Bắt Đầu
Bước 1: Thượng Hương (Dâng Hương)
Hành giả quỳ thẳng, dâng hương ngang trán, tâm quán tưởng khói hương xông thấu mười phương cõi Phật.
Khấn nguyện: "Nguyện đem lòng thành kính, gửi theo đám mây hương. Phảng phất khắp mười phương, cúng dường ngôi Tam Bảo. Thề trọn đời giữ đạo, theo tự tính làm lành. Cùng pháp giới chúng sinh, đồng vãng sinh Cực Lạc."
(Cắm hương vào lư, đảnh lễ Tam Bảo 3 lễ)
Bước 2: Phục Nguyện & Phát Nguyện
Hành giả chắp tay trang nghiêm, đọc lời tác bạch (có thể đọc thầm hoặc đọc thành tiếng nhỏ):
Nam Mô Bản Sư Thích Ca Mâu Ni Phật (3 lần)
Hôm nay là ngày: ngày.....tháng..... năm 2026 Dương Lịch hoặc ngày...tháng... năm 2026 Âm Lịch
Đệ tử con tên là: ………… (Pháp danh: …………)
Ngụ tại: ………………………………………………
Giờ này, con xin phát tâm chí thành trì tụng kinh Kinh Sách Tu Tập
Ngưỡng thỉnh:
Mười phương Chư Phật, chư Đại Bồ Tát, chư Hiền Thánh Tăng.
Chư vị Thiên Long Bát Bộ, Hộ Pháp Thiện Thần. Xin quang giáng đàn tràng, chứng minh công đức, gia hộ cho đệ tử thân tâm định tĩnh, trí tuệ sáng suốt để việc trì tụng được viên mãn.
Cẩn cáo cung thỉnh:
Nội ngoại Gia tiên, Cửu Huyền Thất Tổ dòng họ ………
Chư vị Thần linh bản xứ, tiền chủ hậu chủ nơi đất này.
Chư vị Oan gia trái chủ, hữu danh vô vị, hữu vị vô danh trong nhiều đời nhiều kiếp.
Nguyện xin cùng vân tập về đây, nương nhờ uy lực của Phật Pháp, lắng nghe kinh văn, khai tâm mở trí, lìa khổ u minh, đồng hướng về nẻo giác, vãng sinh cõi lành.
Đảnh lễ (Trì tụng danh hiệu):
Nam Mô Cầu Sám Hối Bồ Tát Ma Ha Tát (3 lần - Mỗi lần 1 lạy để tiêu trừ nghiệp chướng trước khi đọc kinh)
Nam Mô A Di Đà Phật (3 lần - Để tương ưng với bản nguyện)
Nam Mô Đại Nguyện Địa Tạng Vương Bồ Tát (3 lần - Để nhờ ngài tiếp dẫn các hương linh)
III. Chính Nghi: Trì Tụng Kinh Văn Kinh Sách Tu Tập
Tâm thế: Đọc rõ ràng, rành mạch, không cần quá nhanh. Tâm đặt vào lời kinh (Tâm lưu xuất, nhĩ lắng nghe).
Linh hoạt:
Nếu có thời gian: Tụng trọn bộ (Toàn kinh).
Nếu bận rộn: Có thể chia theo Phẩm để tụng.
Khi có việc đột xuất: Đọc đến hết một Phẩm, xá ba xá, đánh dấu trang kinh.
Lời tác bạch khi tạm dừng: "Nay đệ tử có duyên sự (hoặc sức khỏe), xin tạm dừng việc trì tụng Kinh Sách Tu Tập tại đây. Nguyện đem lòng thành kính này giữ trọn, mai sau tiếp tục hành trì cho đến khi viên mãn."
CÁCH ĐỌC 1
TỤNG CHÚ ĐẠI BI
Nam-mô Đại-bi Hội-Thượng Phật Bồ-tát (3 lần)
Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại Đại-bi tâm đà-la-ni.
Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô yết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da, bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, cu lô cu lô, kiết mông độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô, ma ra hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lị thắng yết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha.
Án, tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ ta bà ha. (3 lần)
CÁCH ĐỌC 2
CÁCH THỨC TỤNG ĐỌC CHÚ ĐẠI BI
Phát nguyện
Chắp tay rồi phát nguyện tụng Chú Đại Bi nhưc sau:
NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT (03 lần)
Nay con vì khắp pháp giới chúng sinh, vì linh hồn ông bà tổ tiên, thân gia quyển thuộc của con và hết thảy các chúng sinh có nhân duyên với con trong từ vô thỉ kiếp đến nay mà trì tụng Chú Đại Bi. Con cầu nguyện Bồ Tát từ bi phóng quang, gia hộ cho hết thảy cùng lĩa khổ được vui, đồng vãng sinh Tây phương Cực lạc quốc.
NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT (03 lần)
Kệ Phát nguyện:
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau biết tất cả các pháp.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm được mắt trí huệ.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau độ các chúng sinh,
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm được phương tiện khéo.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau lên thuyền bát nhã.
Nam mô Đại Bi Quán Thể Âm,
Nguyện con sớm được qua biển khổ,
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau được đạo giới định.
Nam mô Đại Bi Quán Thể Âm,
Nguyện con sớm lên non Niết Bàn.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con mau về nhà vô vi.
Nam mô Đại Bi Quán Thế Âm,
Nguyện con sớm đồng thân pháp tánh.
Nếu con hướng về nơi non đao,
Non đao tức thời liền sụp đổ.
Nếu con Hướng về lửa, nước sôi.
Nước sôi, lửa cháy tự khô tắt.
Nếu con hướng về cõi địa ngục,
Địa ngục liền mau tự tiêu diệt.
Nếu con hướng về loài ngạ quỷ
Ngạ quỷ liền được tự no đủ,
Nếu con hướng về chúng Tu La,
Tu La tâm ác tự điều phục,
Nếu con hướng về các súc sinh,
Súc sinh tự được trí huệ lớn.
Chắp tay niệm danh hiệu Phật
NAM MÔ QUÁN THỂ ÂM BỒ TÁT (30 lần)
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT (30 lần)
NAM MÔ ĐẠI BI HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT (3lần)
.png)
Kết Tam Muội Ấn: Tay trái đặt dưới tay phải, các ngón tay chồng lên nhau, hai đầu ngón lay cái chạm vào nhau. Sau đó tụng ít nhất 5 biến Chú Đại Bi
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni
Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da. Bà lô yết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát tỏả. Nam mô tất kiết lật đoa y mông a rị da. Bà lô yết đế. Thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì. Hê rị, ma ha bàn đa sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đa (na ma bà tát đa). Na ma bà dà. Ma phạt đạt đậu đát điệt tha. Án A bà lô hê. Lô ca đế. Ca ra đế. Di hê rị. Ma ha bồ để tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra. Ma hê ma hê rị đà dựng. Cu lô cu lô yết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế. Ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất Phật ra da. Giá ra giá ra. Mạ mạ phạt ma ra. Mục để lệ. Y hê y hê. Thất na thất na. A Ra sâm Phật ra xá lợi. Phạt Sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra. Hô lô hô lô hê rị. Ta ra ta ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ Đề dạ Bồ Đề dạ. Bồ đà dạ bồ đà dạ. Di đế rị dạ. Na ra cẩn trì. Địa rị sắc ni na. Ba dạ ma na. Ta bà ha. Tất đà dạ. Ta bà ha. Ma ha tất đà dạ. Ta bà ha. Tất đà du nghệ. Thất bàn ra dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn trì. Ta bà ha. Ma ra na ra. Ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da. Ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ. Ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ. Ta bà ha. Bà đà ma yết tất đà dạ. Ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn dà ra dạ. Ta bà ha. Mà bà rị thắng yết ra dạ. Ta bà ha.
Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nạm mô a rị da. Bà lô kiết đế. Thước bàn ra dạ. Ta bà ha.
Án. Tất điện đô. Mạn đà ra. Bạt đà gia. Ta bà ha. (3 lần)
Hồi hướng:
NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT (03 lần)
Con nguyện hồi hướng công đức tụng Chú Đại Bì này cho Pháp giới chúng sinh, cho linh hồn ông bà tổ tiên, thân gia quyến thuộc của con trong từ vô thỉ kiếp đến nay; và cho hết thảy các chúng sinh có nhân duyên với con trong từ vô thỉ kiếp đến nay. Nguyện cho tất cả cùng lìa khổ được vui, đồng văng sinh Tây phương Cực Lạc quốc.
NAM MÔ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT (03 lần)
CÁCH ĐỌC 3
CHÚ ĐẠI BI - BẢN TIẾNG PHẠN VÀ TIẾNG VIỆT - ĐẦY ĐỦ
Chú Đại Bi được xuất phát từ kim khẩu của Bồ tát Quán Thế Âm. Với oai lực và linh nghiệm đã được chứng minh qua không gian và thời gian, thần chú Đại Bi đã được trân trọng trì tụng trong các khóa lễ, các nghi thức tụng niệm chính của các quốc gia theo truyền thống Phật giáo Đại thừa.
Thần Chú Đại Bi được rút ra từ “Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà Ra Ni”, do chính đức Phật Thích Ca diễn nói trong một pháp hội, trước mặt đông đủ các vị Bồ Tát, Thanh văn, Thánh chúng, Trời, Thần, Thiên, Long, các Đại thánh tăng như Ma Ha Ca Diếp, A Nan… cùng câu hội, tại núi Bồ Đà Lạc Ca (Potalaka), một hải đảo ở về phía Nam xứ Ấn Độ, được coi như là nơi mà đức Bồ Tát Quán Thế Âm thường trụ tích. Ta có thể tin chắc điều đó, bởi vì Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn được mở đầu bằng câu nói quen thuộc của Ngài A Nan “Như thế tôi nghe”, cũng như xuyên qua nội dung hỏi đáp giữa ngài A Nan và đức Thế Tôn, đã được ghi lại ở trong kinh.
Trong pháp hội này, Bồ Tát Quán Thế Âm vì tâm đại bi đối với chúng sinh, muốn cho “chúng sinh được an vui, được trừ tất cả các bệnh, được sống lâu, được giàu có, được diệt tất cả nghiệp ác tội nặng, được xa lìa chướng nạn, được tăng trưởng công đức của pháp lành, được thành tựu tất cả các thiện căn, được tiêu tan tất cả sự sợ hãi, được mau đầy đủ tất cả những chỗ mong cầu” mà nói ra Thần Chú này.
Chú Đại Bi sau đó đã được ngài Dà Phạm Đạt Ma (Bhagavaddharma: có nghĩa là Tôn Pháp) một Thiền sư Ấn Độ, du hóa qua Trung Quốc vào niên hiệu Khai Nguyên đời nhà Đường, dịch và chuyển âm từ tiếng Phạn qua tiếng Trung Hoa và được Hoà Thượng Thích Thiền Tâm chuyển ngữ qua tiếng Việt.
Với oai lực và linh nghiệm đã được chứng minh qua không gian và thời gian, thần chú Đại Bi đã được trân trọng trì tụng trong các khoá lễ, các nghi thức tụng niệm chính của các quốc gia theo truyền thống Phật giáo Đại thừa như: Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam,…
ན༌མོ༌རཏྣ༌ཏྲ༌ཡཱ༌ཡ། ན༌མཿ༌ཨཱཪྱ༌ཛྙཱ༌ན༌ས༌ག༌ར། བཻ༌རོ༌ཙ༌ན༌བྻཱུ༌ཧ༌རཱ༌ཛཱ༌ཡ། ཏ༌ཐཱ༌ག༌ཏཱ༌ཡ། ཨརྷ༌ཏེ༌སམྱཀ༌སམྦུ༌དྡྷཱ༌ཡ། ན༌མཿ༌སརྦ༌ཏ༌ཐཱ༌ག༌ཏ༌བྷྱཿ། ཨརྷཏེབྷྱཿ༌སམྱཀ༌སམྦུ༌དྡྷེ༌བྷྱཿ༌ན། མཿ༌ཨཱརྱ༌ཨ༌ཝ༌ལོ༌ཀི༌ཏེ༌ཤྭ༌རཱ༌ཡ། བོ༌དྷིི༌སཏྟྭ༌ཡ། མཧཱ༌ས༌ཏྟྭ༌ཡ། མཧཱ༌ཀ༌རུ༌ཎི༌ཀཱ༌ཡ། ཏདྱ༌ཐཱ། ༀ༌དྷ༌ར༌དྷ༌ར། དྷི༌རི༌དྷི༌རི། དྷུ༌རུ༌དྷུ༌རུ། ཨི༌ཊྚི༌ཝ༌ཊྚི། ཙ༌ལེ༌ཙ༌ལེ། པྲ༌ཙ༌ལེ༌པྲ༌ཙ༌ལེ། ཀུ༌སུ༌མེ༌ཀུ༌སུ༌མེ༌ཝ༌རེ། ཨི༌ལི༌མི༌ལི། ཙི༌ཏི༌ཛཱ༌ལ༌ཨ༌པ༌ན༌ཡེ༌སྭཱཧཱ ༎
Namo ratna-trayāya Namaḥ Ārya-jñāna-sāgara-vairochana-vyūha-rājāya tathāgatāya arhate samyaksaṃbuddhāya Namaḥ sarva tathāgatebhyaḥ arhatebhyaḥ samyaksaṃbuddhebhyaḥ Namaḥ Ārya-avalokiteśvarāya bodhisattvāya mahā-sattvāya mahākāruṇikāya Tadyathā: Oṃ_ dhara dhara, dhiri dhiri, dhuru dhuru, itti vatti, chale chale, prachale prachale, kusume kusuma vara, ili mili, jiti jvalaṃ āpanāya-svāhā
1. Nam mô ta na ta da da
2. Nam mô ai da cha nà
3. Xa cá ra ê lô cha nà
4. Lu ha rát cha da
5. Ta cá ta ta dà
6. Àn là há tê
7. Sinh dá san, bu cà dà
8. Nam mô (sa) ruva (tách) ha ka kê tê
9. Án la han ka tê, sàn dá san
10. Bu kê tê, nam mô a ri da (om) va đu kề tề
11. S(ì) oa ra da, bu ví xoa (na) va dà
12. Mà hà xá ná vá da
13. Ma há ca lô ni cà dà
14. Ta ni da ta ốm ta ra ta rà
15. Dtì rì dtí ri duu ru duu rù
16. Ít ti quê. Ít ti cha rế cha rề
17. Bù đà chá rê, bu đa cha rề
18. Kút su mê, kút su ma qua
19. Quê í ni vi ni, trít ti, chu va la mát, bá ta da xoa ha.
https://www.youtube.com/watch?v=uHRYd5L0Uqk
Nam-mô Đại-bi Hội-Thượng Phật Bồ-tát (3 lần) Thiên thủ thiên nhãn, vô ngại Đại-bi tâm đà-la-ni.
Nam mô hắc ra đát na đa ra dạ da. Nam mô a rị da bà lô yết đế, thước bát ra da, bồ đề tát đỏa bà da, ma ha tát đỏa bà da, ma ha ca lô ni ca da. Án tát bàn ra phạt duệ, số đát na đát tỏa. Nam mô tất kiết lật đỏa, y mông a rị da, bà lô kiết đế, thất Phật ra lăng đà bà. Nam mô na ra cẩn trì hê rị, ma ha bàn đa sa mế, tát bà a tha đậu du bằng, a thệ dựng, tát bà tát đa, na ma bà già, ma phạt đạt đậu, đát điệt tha. Án, a bà lô hê, lô ca đế, ca ra đế, di hê rị, ma ha bồ đề tát đỏa, tát bà tát bà, ma ra ma ra, ma hê ma hê, rị đà dựng, câu lô câu lô, kiết mông độ lô độ lô, phạt xà da đế, ma ha phạt xà da đế, đà ra đà ra, địa rị ni, thất Phật ra da, dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra, mục đế lệ, y hê di hê, thất na thất na, a ra sâm Phật ra xá lợi, phạt sa phạt sâm, Phật ra xá da, hô lô hô lô, ma ra hô lô hô lô hê rị, ta ra ta ra, tất rị tất rị, tô rô tô rô, bồ đề dạ, bồ đề dạ, bồ đà dạ, bồ đà dạ, di đế rị dạ na ra cẩn trì địa rị sắc ni na, ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ, thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khê da, ta bà ha. Ta bà ma ha, a tất đà dạ, ta bà ha. Giả kiết ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lợi thắng yết ra dạ, ta bà ha. Nam mô hắc ra đát na, đa ra dạ da. Nam mô a rị da, bà lô yết đế, thước bàng ra dạ, ta bà ha. Án, tất điện đô, mạn đa ra, bạt đà dạ ta bà ha. [1]
https://www.youtube.com/watch?v=0ZPn2wJdqQY
Muốn đạt đến cứu cánh giác ngộ không thể không thông qua phương pháp thiền định. Nhưng khi nghe nói đến Thiền, một người phật tử bình thường khó hình dung ra nổi và nghĩ đến nó như là một cái gì đó mông lung, trừu tượng, huyền bí.
Nếu chúng sinh nào, trong một ngày đêm tụng năm biến chú, sẽ diệt trừ được tội nặng trong trăm ngàn muôn ức kiếp sinh tử.
Nếu chúng sinh nào xâm tổn tài vật, thức ăn uống của thường trụ sẽ mang tội rất nặng, do nghiệp ác ngăn che, giả sử ngàn đức Phật ra đời cũng không được sám hối, dù có sám hối cũng không trừ diệt. Nếu đã phạm tội ấy, cần phải đối 10 phương đạo sư sám hối, mới có thể tiêu trừ. Nay do tụng trì chú Đại Bi liền được trừ diệt. Tại sao thế? Bởi khi tụng chú Đại Bi tâm đà ra ni, 10 phương đạo sư đều đến vì làm chứng minh, nên tất cả tội chướng thảy đều tiêu diệt.
Chúng sinh nào tụng chú này, tất cả tội thập ác ngũ nghịch, báng pháp, phá người, phá giới, phạm trai, hủy hoại chùa tháp, trộm của tăng kỳ, làm nhơ phạm hạnh, bao nhiêu tội ác nghiệp nặng như thế đều được tiêu hết, duy trừ một việc: kẻ tụng đối với chú còn sinh lòng nghi. Nếu có sinh tâm ấy, thì tội nhỏ nghiệp nhẹ cũng không được tiêu, huống chi tội nặng?
Hàng trời, người nào thường thọ trì tâm chú này như tắm gội trong sông, hồ, biển cả, nếu những chúng sinh ở trong đó được nước tắm gội của người này dính vào thân thì bao nhiêu nghiệp nặng tội ác thảy đều tiêu diệt, liền được siêu sinh về tha phương Tịnh Độ, hóa sinh nơi hoa sen, không còn thọ thân thai, noãn, thấp nữa. Các chúng sinh ấy chỉ nhờ chút ảnh hưởng mà còn được như thế, huống chi là chính người trì tụng?
Và, như người tụng chú đi nơi đường, có ngọn gió thổi qua mình, nếu những chúng sinh ở sau được ngọn gió của kẻ ấy lướt qua y phục thì tất cả nghiệp ác, chướng nặng thảy đều tiêu diệt, không còn đọa vào tam đồ, thường sinh ở trước Chư Phật, cho nên, phải biết quả báo phúc đức của người trì tụng chú thật không thể nghĩ bàn!
Lại nữa, người trì tụng đà ra ni này, khi thốt ra lời nói chi, hoặc thiện hoặc ác, tất cả thiên ma ngoại đạo, thiên, long, quỷ thần đều nghe thành tiếng pháp âm thanh tịnh, đối với người ấy khởi lòng cung kính, tôn trọng như Phật.
Người nào trì tụng đà ra ni này nên biết người ấy chính là tạng Phật thân, vì 99 ức hằng hà sa Chư Phật đều yêu quý. Nên biết người ấy chính là tạng quang minh, vì ánh sáng của tất cả Như Lai đều chiếu đến nơi mình.
Nên biết người ấy chính là tạng từ bi, vì thường dùng đà ra ni cứu độ chúng sinh. Nên biết người ấy chính là tạng diệu pháp, vì nhiếp hết tất cả các môn các môn đà ra ni. Nên biết người ấy chính là tạng thiền định vì trăm ngàn tam muội thảy đều hiện tiền. Nên biết người ấy chính là tạng hư không, vì hằng dùng không huệ quán sát chúng sinh.
Nên biết người ấy chính là tạng vô úy vì thiên, long, thiện thần thường theo hộ trì. Nên biết người ấy chính là tạng diệu ngữ vì tiếng đà ra ni trong miệng tuôn ra bất tuyệt. Nên biết người ấy chính là tạng thường trụ vì tam tai, ác kiếp không thể làm hại. Nên biết người ấy chính là tạng giải thoát vì thiên ma ngoại đạo không thể bức hại. Nên biết người ấy chính là tạng dược vương vì thường dùng đà ra ni trị bệnh chúng sinh.
Nên biết người ấy chính là tạng thần thông vì được tự tại dạo chơi nơi 10 phương cõi Phật. Công đức người ấy khen ngợi không thể cùng.
(Thiện Minh tổng hợp)
CÁCH 4
Nam mô đại bi hội thượng Phật Bồ Tát. (3 lần)
Thiên thủ thiên nhãn vô ngại đại bi tâm đà la ni:
Nam mô hát ra đát na đá ra dạ da.
Nam mô a rị da. Bà lô yết đế thước bát ra da. Bồ đề tát đỏa bà da. Ma ha tát đỏa bà da. Ma ha ca lô ni ca da. Án. Tát bàn ra phạt duệ. Số đát na đát tả. Nammô tất cát lật đỏa y mông a rị da. Bà lô cát đế thất Phật ra lăng đà bà. Nammô na ra cẩn trì. Hê rị ma ha bàn đá sa mế. Tát bà a tha đậu du bằng. A thệ dựng. Tát bà tát đá (na ma bà tát đa *) na ma bà dà. Ma phạt đặc đậu. Đát điệt tha. Án a bà lô hê. Lô ca đế. Ca ra đế. Di hê rị. Ma ha bồ đề tát đỏa. Tát bà tát bà. Ma ra ma ra. Ma hê ma hê rị đà dựng. Câu lô câu lô yết mông. Độ lô độ lô phạt xà da đế. Ma ha phạt xà da đế. Đà ra đà ra. Địa rị ni. Thất Phật ra da. Dá ra dá ra. Mạ mạ phạt ma ra. Mục đế lệ. Y hê y hê. Thất na thất na. A ra sâm Phật ra xá lợi. Phạt sa phạt sâm. Phật ra xá da. Hô lô hô lô ma ra. Hô lô hô lô hê rị. Ta ra ta ra. Tất rị tất rị. Tô rô tô rô. Bồ đề dạ bồ đề dạ. Bồ đà dạ bồ đà dạ. Di đế lị dạ. Na ra cẩn trì. Địa lị sắt ni na. Ba dạ ma na, ta bà ha. Tất đà dạ, ta bà ha. Ma ha tất đà dạ, ta bà ha. Tất đà du nghệ. Thất bàn ra dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì, ta bà ha. Ma ra na ra, ta bà ha. Tất ra tăng a mục khư da, ta bà ha. Ta bà ma ha a tất đà dạ, ta bà ha. Giả cát ra a tất đà dạ, ta bà ha. Ba đà ma yết tất đà dạ, ta bà ha. Na ra cẩn trì bàn dà ra dạ, ta bà ha. Ma bà lợi thắng yết ra dạ, ta bà ha.
Nammô hát ra đát na đá ra dạ da.Nammô a lị da. Bà lô cát đế. Thước bàn ra dạ, ta bà ha.
“Án, tất điện đô. Mạn đa ra. Bạt đa da, ta bà ha.”. (3 lần)
Nam mô Thập phương thường trú Tam bảo (3 lần)
Nam mô A-Di-Đà Phật (tùy hỷ tụng niệm)
Chú Đại Bi:
Theo Kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm Bồ Tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà La Ni giải thích: “Hồi đời quá khứ vô lượng ức kiếp, có đức Phật Thiên Quang Vương Tịnh Trụ ra đời vì ngài Quán Thế Âm mà nói ra chú Đại Bi này. Lúc đó Ngài mới trụ bực Sơ Địa, sau khi nghe chú này rồi thì siêu chứng lên bậc Bát Địa liền, Ngài thấy hiệu nghiệm như vậy liền phát đại nguyện rằng: “Nếu qua đời vị lai có thể đem thần chú này ra làm lợi ích cho chúng sinh thì cho thân Ngài sinh ra ngàn cái tai ngàn con mắt,” v.v… Ngài nguyện vừa xong thì quả nhiên tay mắt đều đầy đủ tất cả và lại được Chư Phật Phóng quang soi đến thân Ngài, đồng thời soi khắp vô biên thế giới. Khi ấy Ngài lại phát nguyện nữa rằng: “Người nào nếu trì tụng chú này mỗi đêm 5 biến thì đặng tiêu hết những tội nặng sinh tử trong trăm ngàn vạn ức kiếp, đến lúc mạng chung thì có thập phương Chư Phật hiện thân tiếp dẫn về cõi Tịnh Độ. Bằng như người nào trì tụng chú này mà sau còn đọa vào ba đường ác và chẳng được sinh về cõi Phật hay chẳng đặng những pháp Tam Muội, chẳng biện tài, sở cầu không toại chí, nếu có mấy sự ấy, thì chú này không được xưng là Đại Bi Tâm Đà La Ni”. Chỉ trừ những người tâm không thiện, chí không thành và lòng hay nghi thì không thấy hiệu nghiệm được liền mà thôi.
Theo Nhị Khoá Hiệp Giải của Hoà Thượng Thích Khánh Anh, trang 74 giải thích: “Thuở ấy, đức Quán Thế Âm rất kín nhiệm Phóng ra hào quang lớn chiếu cả mười phương các cõi nước đều rực rỡ thành màu vàng ròng; rồi chấp tay bạch Phật rằng: Tôi có thần chú…. Đại Bi tâm Đà La Ni, nay tôi muốn nói ra để cho các chúng sinh đều đặng an lạc, vì nó có hiệu lực: tiêu trừ bệnh hoạn, tuổi sống lâu dài, giàu có, thêm điều lành, dứt hết các tội, được toại tâm với sự mong cầu, nên được Phật hứa cho thuyết chú.”
Đây là những sự linh ứng và diệu dụng của Thần Chú Đại Bi.
Lược Giải Chú Đại Bi
1.- Dẫn nhập:
Chú Đại Bi được phát xuất từ sự xác quyết do kim khẩu của Bồ tát Quán Thế Âm. Thường được gọi là Thần chú, Linh chú. Bởi vì ai tin và thành tâm hành trì thần chú nầy thì bản thân người ấy đã có đủ Đại bi tâm. Thần chú nầy do Bồ tát Quán Thế Âm nói ra và được Chư Phật ấn chứng mà gần nhất là đức Thích Ca Như Lai Từ Phụ của chúng ta nghe và đức Thích Ca cũng ấn chứng.
Thần chú nầy có rất nhiều tên khác nhau như:
Quảng đại Viên mãn, Vô ngại Đại bi, Cứu khổ Đà la ni, Diên thọ Đà la ni, Mãn nguyện Đà la ni, Diệt ác thú Đà la ni, Phá ác nghiệp chướng Đà la ni, Tối siêu thượng Đà la ni,..
Những danh hiệu trên đây, đức Phật đã trực tiếp hướng dẫn cho ngài A Nan và Đại chúng biết. Nguyên Thần chú nầy tên rất dài: “Thiên thủ thiên nhãn Quán Thế Âm Bồ tát Quảng đại Viên mãn Vô ngại Đại bi tâm Đà la ni thần chú”. Bài chú gồm có 84 câu.
Đức Phật đã từng nói với Bồ tát Quán Thế Âm:
– “Hởi thiện nam tử, ngươi nên bền lòng trì tụng Thần chú nầy, sẽ có tác dụng lớn trong việc tế độ chúng sinh trong những ác nghiệp của các kiếp sau ….”
Căn cứ vào sự ghi chép trong kinh điển, lúc ấy Bồ tát Quán Thế Âm sau khi nghe đức Phật hướng dẫn, Ngài liền phát nguyện trì tụng liên tục từ cảnh giới Sơ địa đến Bát địa và thẳng lên Bất động địa. Cũng từ đó, ngài phát đại nguyện: Cầu cho kiếp sau của ngài phổ độ cho hết thảy chúng sinh đều được vui thích và mong cho ngài được ngàn cánh tay, ngàn con mắt.
Sau khi phát nguyện xong, phút chốc, toàn thân ngài đã đầy đủ cả ngàn tay, ngàn mắt; tất cả mười phương đều chấn động và mưa hoa cúng dường. Chư Phật cũng phóng hào quang rực rỡ, soi khắp đó đây. Từ đó, Thần chú nầy mới có nhiều danh hiệu như vậy.
Đức Phật bảo ngài An Nan rằng:
Kết quả có được của Bồ tát Quán Thế Âm là do sự phát đại thệ nguyện vì chúng sinh.
Những ai phát nguyện nhất tâm trì tụng thì sẽ được tiêu trừ tội chướng trong đời nầy và kiếp vị lai. Trong giây phút lâm chung, nếu mình tự niệm hoặc được thiện tín thành tâm hộ niệm thì sẽ được vãng sinh hoặc đến quốc độ mà mình muốn đến. Có đức Phật A Di Đà và chư vị Bồ tát thùy từ tiếp dẫn.
Những ai trong đời nầy, nhất tâm trì tụng Đại bi tâm chú thì sẽ được toại nguyện về 15 loại thiện sinh và trừ được 15 loại ác tử.
a. Mười lăm loại thiện sinh:
1. Nơi được sinh ra thường gặp năm điều lành.
2. Thường được sinh ở nước lành (thiện quốc).
3. Thường gặp thời hay, vận tốt.
4. Thường gặp được thầy sáng, bạn lành.
5. Thân các căn đều trọn vẹn, đầy đủ (lục căn hoàn cụ)
6. Đạo tâm luôn được thuần hậu, chân chánh.
7. Không phạm cấm giới.
8. Tình anh em cốt nhục đều được thuận hòa, an lạc.
9. Trọn đời cơm áo đầy đủ, nhàn nhã.
10. Luôn luôn được mọi người kính mến, thương giúp.
11. Tài sản, của cải không bao giờ bị cướp đoạt.
12. Cầu gì đều được toại ý. (Sở cầu như ý)
13. Luôn được thiện thần, hộ pháp bảo vệ.
14. Nơi được sinh ra thường được nghe Phật thuyết pháp.
15. Khi nghe được Chánh pháp là hiểu ngay được thâm ý mà trực ngộ lời Phật dạy.
b. Mười lăm loại về ác tử:
1. Không bị chết khốn khổ về đói khát, loạn lạc.
2. Không bị chết vì giam cầm, đánh đập.
3. Không bị chết vì thù oán.
4. Không bị chết nơi trận địa.
5. Không bị chết vì thú dữ cắn xé.
6. Không bị chết vì rắn, rết cắn.
7. Không bị chết cháy hay chết đuối.
8. Không bị trúng độc khi ăn uống mà chết.
9. Không bị các loại trùng độc sát hại.
10. Không bị cuồng loạn hay thất vọng mà chết.
11. Không bị cây cối rơi trúng hoặc sa xuống hầm hố mà chết.
12. Không bị người khác trấn ếm, trù ẻo mà chết.
13. Không bị tà thần, ác quỷ làm hại để chết.
14. Không bị chết vì ác bệnh.
15. Không bị chết oan (tự tử, bất đắc kỳ tử, …).
Vì những điều nêu trên, Chú Đại Bi có thể trừ được tất cả những tai nạn, những khổ nạn và thành tựu được những toại nguyện. Những ai chí thành trì niệm thì được những điều lợi ích như trên và sẽ được xa lánh mọi ưu bi, khổ não cho chính mình và có thể cứu giúp được tha nhân như Đại bi tâm của Bồ tát Quán Thế Âm.
2.- Giải thích:
Nammô : tức là Quy y, nương về, nương theo,
Hát ra đát na đá ra dạ da : tức là Tam bảo (Phật, Pháp Tăng),
Nammô : tức là Quy mạng, cũng có nghĩa là Quy y,
A lị da : tức là Thánh,
Bà lô yết đế : tức là Quán,
Thước bát ra da : tức Tự tại,
Bồ đề tát đỏa bà da : tức là Giác hữu tình,
Ma ha tát đỏa bà da : tức là Đại giác hữu tình,
Ma ha ca lô ni ca da : tức là người có lòng đại bi. (Đại bi tâm giả),
Án : tức là Quy mạng,
Tát bàn ra phạt duệ : tức là Nhất thế tôn,
Số đát na đát tả : tức là Vị cứu hết thảy sự khủng bố,
Nammô : tức là Quy mạng,
Nammô tất cát (hay kiết) : tức là kẻ ở bên kia (Ư bỉ),
Y mông a lị da : tức là Thánh của chúng ta (Ngã thánh),
Bà lô cát đế, thất Phật ra lăng đà bà : tức là Quán tự tại Hương sơn,
Nammô : tức là Quy mạng,
Na ra cẩn trì : tức là Uy lực của Thánh Quán tự tại, tên là Thanh cảnh chí tâm chân ngôn,
Hê rị ma ha bàn đá sa mế : tức là Ta nay tuyên thuyết,
Tát bà a tha đậu du bằng : tức là Vị có hết thảy mọi sự hy vọng viên mãn và có ánh sáng rực rỡ,
A thệ dựng : tức là Không gì có thể so sánh được,
Tát bà tát đá : tức là Hết thảy mọi quỷ thần không thể đánh thắng được.
(* ma bà tát đá) na ma bà dà : tức là Đồng chân,
Ma phạt đặc đậu : tức là Người có đạo tâm đang ở trong cõi mê khiến sớm cho được thanh tịnh,
Đát điệt tha : tức là Có nghĩa là,
Án : tức là Quy mạng,
A bà lô hê : tức là Bậc có trí tuệ sáng suốt,
Lô ca đế : tức là Quán tự tại,
Ca ra đế : tức là Đấng siêu việt thế gian,
Di hê lị : tức là Vị sư tử vương,
Ma ha bồ đề tát đỏa : tức là Đại Bồ tát,
Tát bà tát bà : tức là Hết thảy hết thảy,
Ma ra ma ra : tức là Ghi nhớ, ghi nhớ,
Ma hê ma hê rị đà dựng : tức là Tâm chân ngôn,
Câu lô câu lô yết mông : tức là Làm sự nghiệp,
Độ lô độ lô : tức là Bảo trì, bảo trì,
Phạt xà da đế : tức là Người dạo chơi ở trên không (Du không giả),
Ma ha phạt xà da đế : tức là Người oai đức lớn (Ma ha) dạo chơi ở trên không (Đại du không giả),
Đà ra đà ra : tức là Bảo trì, bảo trì,
Địa rị ni : tức là Kẻ trì tụng,
Thất Phật ra da : tức là Vua Tự tại (Đế vương tự tại),
Dá ra dá ra : tức là hành động,
Mạ mạ phạt ma ra : tức là Không bị bụi bám vào (Vô cấu nhiễm),
Mục đế lệ : tức là Thể không nhơ nhớp (Vô cấu thể),
Y hê y hê : tức là Lời giáo dục, dạy dỗ (Giáo ngữ),
Thất na thất na : tức là Lời thề rộng lớn (Đại thệ nguyện),
A ra sâm : tức là vua (Vương),
Phật ra xá lị : tức là sự Giác ngộ kiên cố (Giác kiên cố tử),
Phạt sa phạt sâm : tức là Hoan hỷ, vui vẻ,
Phật ra xá da : tức là Trừ mọi độc hại do tham sân si gây nên,
Hô lô hô lô ma ra : tức là Làm phép không bị nhiễm ô (tác pháp vô cấu
nhiễm),
Hô lô hô lô hê rị : tức là mau chóng, mau chóng, tóc đã bạc rồi.
Ta ra ta ra : tức là Kiên cố vậy (kiên cố giả),
Tất rị tất rị : tức là Hoa sen,
Tô rô tô rô : tức là Cọng hoa sen,
Bồ đề dạ bồ đề dạ : tức là tỉnh ngộ, tỉnh ngộ,
Bồ đà dạ bồ đà dạ : tức là Dạy cho được Giác ngộ,
Di đế rị dạ : tức là Người có lòng từ bi,
Na ra cẩn trì : tức là Thanh cảnh, xinh đẹp,
Địa lị săt ni na : tức là Bền chắc và lanh lợi,
Ba dạ ma na : tức là Nghe tên (danh văn),
Ta bà ha : tức là Lòng mong mỏi được gặp thì sẽ được hiển hiện, sinh lòng hoan hỷ, viên mãn tới niết bàn,
Tất đà dạ : tức là Nghĩa,
Ta bà ha : tức là Bậc đã được thành tựu,
Ma ha tất đà dạ : tức là Bậc đại nghĩa,
Ta bà ha : tức là bậc đã được thành tựu lớn lao, đại thành tựu,
Tất đà du nghệ : tức là Vô vi,
Thất bàn ra dạ : tức là Bậc Đại tự tại,
Ta bà ha : Bậc Tự tại bởi Tất địa và Du già,
Na ra cẩn trì : tức là Hiền ái,
Ta bà ha : tức là Vì thanh cảnh viên mãn nên được thành tựu,
Ma ra na ra : tức là Như ý tối tôn,
Ta bà ha : tức là được Thành tựu,
Tất ra tăng a mục khư da : tức là Nghĩa thứ nhất của tiếng yêu thương (ái ngữ đệ nhất nghĩa),
Ta bà ha : tức làTaycầm hoa sen,
Ta bà ma ha : tức là Đại thành tựu,
A tất đà dạ : tức là Không có gì so sánh được (Vô tỷ),
Ta bà ha : tức là Thành tựu,
Giả cát ra a tất đà dạ : tức là Không có gì để so sánh được,
Ta bà ha : tức là Thành tựu,
Ba đà ma yết tất đà dạ : tức là Đại nghĩa,
Ta bà ha : Đấng được khai ngộ vì nghe được tiếng pháp loa,
Na ra cẩn trì bàn đà ra dạ : tức là Bậc hiền thủ thánh tôn,
Ta bà ha : tức là Thành tựu,
Ma bà lợi thắng yết ra dạ : tức là Anh hùng uy đức sinh tánh,
Ta bà ha : tức là Thành tựu, đại thành tựu (sự chinh phục tất cả ma chướng).
Nammô hát ra đát na đá ra dạ da : tức là Quy mạng Tam bảo (Phật Pháp Tăng),
Nammô : tức là Quy mạng, quy y,
A lị da : tức là Thánh,
Bà lô cát đế : tức là Quán,
Thước bàn ra dạ : tức là Tự tại,
Ta bà ha : tức là Thành tựu,
Án : tức là Quy mạng, quy y,
Tất điện đô : tức là Khiến cho tôi sớm được thành tựu,
Mạn đà ra : tức là Chân ngôn,
Bạt đà da : tức là Đều (Câu hay cu),
Ta bà ha : Thành tựu, sớm thành tựu.
3.- Đại ý của bài Thần chú:
Con kính cẩn cúi đầu trước ngôi Tam bảo Phật Pháp Tăng. Nguyện xin quy y theo đức Thánh Quan Tự Tại. Con nguyện đem thân mạng mà quy y với đức đại Bồ tát có lòng đại từ đại bi, mà cầu xin sớm được thành tựu sự giác ngộ để cứu độ cho hết thảy chúng sinh do mê muội đang bị khủng bố trên thế gian nầy. Do đó, con đem cả thân mạng mà quy y với đức Đại Bồ Tát có lòng đại từ bi. Một lòng thề nguyện truyền bá rộng rãi lòng từ bi của đức Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát; lắng nghe tâm chân ngôn (tổng trì pháp môn tâm chân ngôn và Phật nội chứng), vâng theo mệnh của bổn tôn là Đại bi tâm đà la ni nầy mà hết lòng xưng tụng công đức Quán Tự Tại Bồ Tát, tất cả mọi hy vọng đều được viên mãn, làm sáng tỏ tính chất đồng thể đại bi thanh tịnh viên minh và làm cho tất cả quỷ thần đều không thể đánh thắng được uy lực to lớn của Ngài. Với những kẻ có đạo tâm, không bao giờ bị vô minh phiền não mê hoặc, không bao giờ bị đắm chìm trong cảnh mê muội, u tối và được dẫn dắt tới thế giới quang minh của đức Đại Bồ Tát. Trí tuệ quang minh được biểu hiện siêu tuyệt nhất thế gian là đức Bồ Tát có công đức vô cùng vĩ đại. Có đấng quy mạng giống như đức Tự Tại Sư Tử Vương Đại Bồ Tát. Ức niệm nói chung của bản thể tâm chân ngôn của Bồ tát cũng giống như đi ở trên không trung để thuyết giảng chánh pháp một cách lớn lao và tự tại, hoặc là làm công việc tư duy về một công việc to rộng. Cũng như các bậc vua chúa, bất kể việc gì, đều được đức Bồ tát làm một cách tự do, tự tại. Được hành động bởi một thân thể thanh tịnh, không mảy may dơ bẩn, hoặc để trừ mọi hành vi dơ bẩn của ba cái độc hại là tham, sân và si; cũng như diệt trừ mọi ác ma độc hại ở trên thế gian nầy. Như thế sẽ nhanh chóng có mái tóc đẹp như hoa sen thanh tịnh và cầm lấy được hoa sen của đức Bồ tát. Giáo hóa được nghiệp ngu si của ta và chứng ngộ được lòng yêu thương vô bờ bến. Khiến được sinh lòng hoan hỷ của Bồ tát Quán Tự tại.
Muốn được tới cõi niết bàn (thành tựu viên mãn) sẽ được thấy cõi niết bàn, và cũng tới được cảnh giới Tất địa (nơi ngộ đạo) với Du già(tương ứng hiệp nhập) thì được tự do, vô ngại. Trong đó, cũng có kẻ không phải là loài người (mặt heo cổ xanh, có kẻ mặt sư tử), con nào từ bi thì biểu thị tay cầm hoa sen, để thâu nhiếp chánh pháp trừ ma quỷ phiền não. Nghe tiếng pháp loa vi diệu được chuyển mê khai ngộ, hết thảy đều quy y Tam bảo.
Nammô Thánh Quan Tự Tại Bồ Tát, khiến cho được tới cõi niết bàn, để trì tụng lời chân ngôn này ở nơi niết bàn thanh tịnh, trang nghiêm.
Trên đây là đại ý toàn bài Chú đại bi, mong quý vị đọc nhiều lần và thành tâm hành trì thì sẽ được như nguyện; đồng thời, một khi đã được thâm hiểu, xin quý vị hướng dẫn bằng hữu cùng tu tập theo, để gieo duyên với cảnh giới Thường Tịch Quang Tịnh Độ.
IV. Hậu Nghi: Phổ Nguyện Hồi Hướng
Hành giả chắp tay, đọc lời hồi hướng công đức:
"Con xin đem công đức trì tụng kinh Kinh Sách Tu Tập này, hồi hướng cho:
Cửu huyền thất tổ, nội ngoại tông thân nhiều đời kiếp, nguyện ông bà cha mẹ siêu sinh Tịnh Độ.
Oan gia trái chủ, những chúng sinh con vô tình hay cố ý tổn hại, nguyện hóa giải oán kết, đồng tu thiện nghiệp.
Vong linh thai nhi, các chiến sĩ trận vong, đồng bào tử nạn, và thập nhị loại cô hồn nơi đất này, mong tất cả nương nhờ Phật lực, sớm thoát luân hồi.
Gia đình bản thân: Cầu nguyện gia môn hưng thịnh, tai qua nạn khỏi, bệnh tật tiêu trừ, công việc hanh thông. Nguyện cho bản thân con trí tuệ khai mở, tâm bồ đề kiên cố, bền bỉ tu học, tinh tấn không lui sụt."
Phục nguyện: Nguyện khắp thế giới an lành, chúng sinh đồng đăng bỉ ngạn.
Nam Mô A Di Đà Phật. (Lạy 3 lễ rồi lui ra)