95. Huyệt Can Du
Hiệu quả trị liệu:

Trị các bệnh mạn tính về mắt, mộng thịt ở mắt, mắt sưng đau, hoa mắt, mắt có màng, viêm túi mật, viêm gan, đau lung, cuồng, chảy máu mũi.


Ngoài các chứng viêm gan, trục trặc chức năng gan, phi đại gan, sưng gan, sỏi mật, viêm túi mặt...thì đói với chứng viêm màng ngực, đau thần kinh liên sườn, đau vùng eo lưng, suy nhược thần kinh, mất ngủ, động kinh, trúng gió, bán thân bất toại, suy nhược cơ thể, đái tháo đường, viêm xoang miệng... huyệt đạo này phát huy hiệu quả trị liệu cao. Đối với các triệu chứng bao gồm hai bên bụng bị bó căng, xoay mình khó khăn, đau nhức vùng ngực hoặc lưng, co giật, vàng da vàng mắt, thị giác kém do bị đau ốm, đờm có máu, chuột rút bắp cẳng chân; say rượu, say tàu xe gây nên tình trạng buồn nôn, ói mửa, biếng àn, chóng mặt, choáng khi đứng lên đột ngột (rối loạn thần kinh tiên đình),... dùng huyệt đạo này cũng rất hiệu quả. Vì gan sẵn có chức năng đề kháng mạnh với những vật lạ xâm nhập vào cơ thể cho nên huyệt Can du nằm tại khu vực buồng gan củng có hiệu quả giải độc đặc biệt cao.


Nhận biết vị trí Huyệt Đạo:

Hai huyệt đối xtỉng qua và cách đốt sống ngực thứ 9 gần 2 đốt ngón tay.

Giải thích tên gọi:

Theo Đông y thì huyệt đạo này là nơi tà khí tập trung xâm nhập vào cơ thể gây nên các chứng bệnh cho Can tạng. Khi Can chi tạng suy,yếu thì phát sinh cảm giác bị đè nén từ buồng tim cho đến xương sườn và nhất là khu vực bèn phải vùng bụng, tại vị trí của huyệt Can du xuất hiện tình trạng kết cứng. Huyệt Can du chuyên để trị liệu chứng suy nhược cơ nàng Can chi tạng, nên được đặt tên như thè. Trong Đông y khi chẩn đoán tình hình của Can chi tạng người ta sử dụng hai huyệt Can du và Kỳ mòn. Vị trí của hai huyệt này và vị trí của Can tạng theo cách gọi của Y học hiện đại củng thống nhất với nhau.