| 20. Huyệt Khí Xá |
![]() |
| Hiệu quả trị liệu: |
Tri đau họng, cứng cổ gáy, lao hạch cổ. Có hiệu quả
trị liệu đối với các chứng bệnh đau cổ họng hoặc cổ sưng tấy, có nhọt mủ, đau
nhức từ hai bả vai đến vùng sau cổ. Huyệt Khí xá tiếp cận với tuyến hạch có
quan hệ mật thiết với các chức năng của dạ dày và đường ruột, vì thế nó tương
đối có hiệu quả trị liệu các triệu chứng do bệnh của dạ dày và đường ruột gây
ra. Huyệt Khí xá nằm trên đường đi của thần kinh Mê tẩu (là đôi dây thần kinh
não thứ 10). Thần kinh Mê tẩu đi từ não bộ đến cổ, qua Khí xá đến ngực, bụng,
do đó kích thích lên huyệt Khí xá còn tốt hơn là kích thích trực tiếp lên thần
kinh Mê tẩu trong việc nâng cao chức năng của dạ dày. Khi gặp các triệu chứng
đầy bụng biếng ăn, cảm giác khó chịu buồn nôn, ói mửa, hoặc nóng rát lồng ngực,
nấc cụt...thì kích thích lên huyệt Khí xá đồng thời kích thích lên thần kinh Mê
tẩu sẽ có hiệu quả chế ngự. Huyệt đạo này còn được dùng vào việc chữa trị chủng
nấc cụt và suy nhược dạ dày mạn tính. |
| Nhận biết vị trí Huyệt Đạo: |
ớ đáy cổ, ngay chỗ lõm sát bờtrên xương đòn, khe giữa bó ức và bó đòn cơ ức - đỏn - chũm. Hoặc giao điểm tử huyệt Nhân nghênh kéo thẳng xuống và huyệt Thủy đột ngang ra 1 tác. Tim huyệt nhanh: Từ chính giữa trái khế yết hằu chiếu thẳng xuổng phía dưới, sẽ gặp chỗ lõm trên đầu xương ngực; hai huyệt Khí xá đối xứng qua chỗ lõm ấy và cách đó chừng 2 đốt ngón tay. Vị trí của huyệt đạo này nằm sát trên đầu mút xương quai xanh giáp với xương ngực; do đó có thể dựa vào cách nhìn từ giữa cổ sang hai bên, thì nơi bắt đầu hĩnh thảnh chã lõm phía trên xương quai xanh nằm sát xương ngực chinh là huyệt Khí xá. |
| Giải thích tên gọi: |
Từ “Khí” biểu
thị tà khí, từ “Xá” tức là nhà ở, có ý nghĩa cư trú; cho nên Khí xá có thể hiểu
là nơi mà các dòng tà khí tụ tập. Đông y cho rằng tà khí chính là nguyên nhân
gây nên bệnh tật; tà khí hội tụ tại Khí xá có liên quan đến các bệnh của dạ
dày, do đó huyệt đạo này thường được sử dụng để chữa trị bệnh đau dạ dày. |