| 127. Huyệt Hiệp Bạch |
![]() |
| Hiệu quả trị liệu: |
Huyệt
đạo này nằm hai bên phổi cho nên rất có hiệu quả trong việc trị liệu các chứng
bệnh đưồng hô hấp. Đối với các triệu chưng buồn bực, nặng nề vùng ngực, ho,
đờm, tim đập quá nhanh, nghẹn thở, và các triệu chứng đau thần kinh cánh tay,
cánh tay tê mỏi hoặc bại liệt, đau khớp võng cầu, đau thần kinh liên sườn...
kích thích lên huyệt đạo này cũng rất hiệu quả. - Trị đau mặt trong cánh tay, ho, đau tức ngực, hơi thở ngắn. |
| Nhận biết vị trí Huyệt Đạo: |
Tìm huyệt nhanh: Trước tiên tìm huyệt Thiên phủ. Dưới huyệt Thiên phủ bằng chiều ngang 1 ngón tay là vị trí của huyệt này. Khi gập
khuỷu tay sờ lên ngực, vị trí nằm trên mé trong cánh tay có cao độ ngang với
núm vú chính là vị trí của huyệt Hiệp bạch. Theo những văn tự cổ thì ngày xưa
đầu núm vú được bôi đen, khi khoanh hai tay trước ngực, vị trí trên cánh tay
trong có cùng cao độ với núm vú sơn đen sát bên cạnh được xác định là huyệt
Hiệp bạch. Vị trí đó nằm phía dưới nách chừng 3 đốt ngón tay, vào khoảng chính
giữa cánh tay. - ở mặt trong cánh tay, noi gặp nhau của bờ ngoài cơ 2 đầu cánh tay với đường ngang dưới nếp nách trước 4 tẩc, trên khớp khuỷu (Xích trạch) 5 tấc, dưới huyệt Thiên Phủ 1 tắc. |
| Giải thích tên gọi: |
“Hiệp” ở đây có nghĩa là
kẹp lại, từ “Bạch” là chỉ phổi (phế), vì học thuyết Đóng y lấy cơ quan nội tạng
của phổi và tim... đối ứng với màu sắc và ngũ hành, phổi thuộc về Bạch (màu
trắng), ngũ hành của nó thuộc Kim. Như vậy tên của huyệt đạo này biểu thị nó
kẹp lấy vị trí màu trắng (tức phổi). Cũng theo quan điểm ấy thì gan đối ứng vổi
Thanh (xanh) và Mộc; tim đối ứng với Xích (đỏ) và Hoả; tuy đối ứng với Hoàng
(vàng) và Thổ; thận đối ứng vói Hắc (đen) và Thủy. |